Đánh nhau khi không kiềm chế được hành vi thì giải quyết như thế nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Khái niệm

Là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái không tự chủ kiềm chế được hành vi phạm tội của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người phạm tội.

2. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nguôi khác trong trạng thái tinh thần bị kích động

mạnh quy định thế nào?

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nguôi khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:

Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nguôi khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

3. Bình luân

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.(,10) Do vậy, tội này có những dấu hiệu pháp lý chung của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và những dấu hiệu pháp lý riêng. Theo khoản 1 của điều luật, tội này có các dấu hiệu pháp lý sau:

3.1 Khách thể của tội phạm

Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người.

3.2 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi phạm tội (khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác). Trong đó, “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tĩnh trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình...”. Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội là do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân của người phạm tội gây ra.
Là người đang bị kích động mạnh về tinh thần, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Như vậy, nguyên nhân của tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng nói ở đây có thể cấu thành tội phạm hoặc cũng có thể không hoặc chưa cấu thành tội phạm. Nhưng dù ở trường hợp nào thì hành vi đó cũng phải có tính chất là trái pháp luật nghiêm trọng. Trong trường hợp bình thường, hành vi trái pháp luật không nghiêm trọng khó có thể gây ra tình trạng tinh thần kích động mạnh.
Hành vỉ trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể chỉ là một hành vi cụ thể và tức thì dẫn đến trạng thái thần kinh bị kích động mạnh của người phạm tội. Nhưng cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là chuỗi những hành vi khác nhau diễn ra có tính lặp đi, lặp lại trong suốt thời gian dài và liên tiếp tác động đến tinh thần người phạm tội làm cho họ bị dồn nén về mặt tâm lý. Đen thời điểm nào đó, khi có hành vi trái pháp luật cụ thể xảy ra thì trạng thái tinh thần của người phạm tội bị đẩy đến cao độ và người phạm tội lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trong trường hợp này, nếu chỉ xét hành vi cụ thể ngay liền trước trạng thái bị kích động mạnh sẽ không thấy được sự nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể là đối với chính người phạm tội hoặc có thể là đối với người khác có quan hệ tình cảm thân thuộc với người phạm tội.
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.3 Mặt khách quan của tội phạm

Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là tình trạng người phạm tội không thể hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế hành vi phạm tội của mình. Tinh trạng tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội phải do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên đối với người phạm tội hoặc người thân thích của họ.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng làhành vi trái pháp luật nói chung và phải ở mức độ nghiêm trọng xảy ra một cách tức thời. Cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức nặng nề, đến một thời điểm nhất định mới bùng lên thì vẫn được coi là tinh thần bị kích động mạnh.Cần phải làm rõ người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của họ.Để đánh giá mức độ tinh thần bị kích động mạnh hay không căn cứ vào tính chất, đặc điểm, mức độ của hành vi trái pháp luật của nạn nhân, đặc điểm tâm sinh lý của người phạm tội, điều kiện môi trường xảy ra hành vi phạm tội, mối tương quan giữa nạn nhân và người phạm tội… Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh…
Hành vi khách quan được quy định của tội này là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng và đã làm cho chủ thể lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Theo đó, hành vi ở đây chỉ có thể là hành động như đâm, chém hay đánh... Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội phạm được quy định là thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên. Đe buộc chủ thể của tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả này cũng cần chứng minh QHNQ giữa hậu quả này với hành động mà họ đã thực hiện.

3.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Dấu hiệu lỗi của chủ thể. Lỗi của chủ thể được quy định có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.
Chủ thể thực hiện tội phạm phải đang ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trạng thái này được hiểu người phạm tội đang căng thẳng về thần kinh, không còn nhận thức đầy đủ về tính chất gây nguy hiểm của hành vi của mình, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Người phạm tội đã mất khả năng tự chủ bản thân, gần như mất hết lý trí nhưng chỉ xảy ra trong giây lát. Do đó, khi xem xét người phạm tội có trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không cần phải xem xét kỹ về nhiều yếu tố như hoàn cảnh xảy ra sự việc, diễn biến của tình tiết vụ án, nhân thân người phạm tội, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, quan hệ xã hội, cường độ và sức mạnh của hành vi phạm tội…Điều quan trọng là việc nạn nhân là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người đó. Không phải mọi hành vi trái pháp luật của nạn nhân đều là dấu hiệu để định tội mà pháp luật quy định hành vi trái pháp luật phải nghiêm trọng. Để xác định tính chất nghiêm trọng đòi hỏi phải xem xét một cách khách quan, toàn diện sự việc xảy ra trên mọi phương diện từ hoàn cảnh, không gian, thời gian, cường độ, công cụ, phương tiện, thiệt hại xảy ra.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Khung hình phạt này nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vì đây là trường hợp có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt. Cụ thể: Người phạm tội đã thực hiện hành vi trong tình trạng khả năng nhận thức và kiềm chế đều bị hạn chế ở mức cao và hơn nữa tình trạng đó lại do chính nạn nhân gây ra. Như vậy, trong trường hợp phạm tội này, mức độ lỗi của chủ thể phạm tội là hạn chế và nạn nhân cũng có lỗi.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên: Đây là trường hợp có từ 02 nạn nhân trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người: Đây là trường hợp nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61 % trở lên hoặc là trường hợp nạn nhân đã chết do bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe và lỗi của chủ thể đối với hậu quả chết người là lỗi vô ý.
+ Hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải có mối quan hệ nhân quả với trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở người phạm tội.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê