1. Đất hết hạn sử dụng có bị nhà nước thu hồi không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi được Nhà nước giao 500m2 đất nông nghiệp của nhà nước với thời hạn 50 năm. Đến cuối năm 2019 này là nhà tôi sẽ hết thời hạn sử dụng đất. Mong Luật sư giải đáp cho tôi, hết thời hạn thì gia đình tôi có bị thu hồi đất hay không và nếu bị thu hồi thì việc đền bù, hỗ trợ như thế nào ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, hết thời hạn thuê đất 50 năm thì Nhà nước có thu hồi đất hay không?

Theo trình bày của bạn, gia định bạn được Nhà nước giao nông nghiệp với thời hạn là 50 năm, căn cứ quy định tại Khoản 1, 2 Điều 126, Luật Đất đai năm 2013, gia đình bạn có thể được nhà nước xem xét tiếp tục sử dụng đất nếu có nhu cầu. Cụ thể:

Điều 126. Đất sử dụng có thời hạn

1. Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này.

2. Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, hộ gia đình, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất.

Như vậy, khi hết thời hạn được ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu gia đình bạn vẫn có nhu cầu sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn 50 năm. Nếu gia đình bạn không có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì Nhà nước sẽ tiến hành thu hồi đất theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013:

Điều 65. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

1. Các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm:

a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

b) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

c) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

d) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;

đ) Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;

e) Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Thứ hai, đất Nhà nước giao đất có thời hạn khi thu hồi có được bồi thường không?

Trường hợp gia đình bạn không có nhu cầu tiếp tục sử dụng diện tích đất 500 mét vuông Nhà nước giao nêu trên, không tiến hành thủ tục gia hạn thời gian sử dụng đất thì Nhà nước sẽ thu hồi đất và gia đình bạn sẽ không được bồi thường theo đúng quy định tại Điều 43 Luật Đất đai năm 2013 về những trường hợp thu hồi đất mà không bồi thường như sau:

"1. Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất khác không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;trong các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 của Luật này;

b) Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao và các công trình công cộng.

c) Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng;

d) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

đ) Đất thuê của Nhà nước;

e) Trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 50 của Luật này

g) Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Phân chia tài sản chung theo quy định nào ? Chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản ?

2. Đất nông nghiệp có bị thu hồi khi hết thời hạn sử dụng đất ?

Thưa luật sư, Tôi xin hỏi: Tôi có 2000m2 đất nông nghiệp thuộc TP Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nghi thời hành sử dụng đến năm 2017.
Vậy hết thời hạn thì gia đình tôi có bị thu hồi hay không và nếu bị thu hồi thì mức đề bù, hỗ trợ được xác định như thế nào?
Người gửi: Nguyễn Văn

Đất nông nghiệp có bị thu hồi khi hết thời hạn sử dụng đất?

Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời lời như sau:

Thứ nhất, hết thời hạn ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu gia đình bạn vẫn có nhu cầu sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn 50 năm.

Khoản 1 Điều 126 Luật đất đai năm 2013quy định:

“Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này.”

Thứ hai, hết thời hạn giao đất mà gia đình bạn không có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì nhà nước thu hồi đất theo hình thức đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn (theo khoản 1 Điều 65 Luật đất đai 2013)

Thứ ba, về mức đền bù, hỗ trợ tái định cư trong trường hợp nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của gia đình bạn.

Vì bạn không cung cấp thông tin cụ thể về thửa đất 2000m2 của gia đình bạn như nhóm đất, vị trí tọa lạc cho nên chúng tôi không thể cung cấp chính xác cho bạn về mức bồi thường, hỗ trợ tái định cư của nhà nước. Chúng tôi xin đưa ra các quy định của pháp luật có thể liên quan đến vấn đề của bạn để bạn tự đối chiếu, như sau:

Khoản 1 Điều 77 Luật đất đai 2013 quy định:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ”

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm các quy định trong Quyết định 29/2013/QĐ-UBND về giá đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa năm 2014, theo đó:

Điều 3. Các quy định về nhóm đất nông nghiệp:

1. Nhóm đất nông nghiệp gồm các loại sau: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất rừng sản xuất, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và đất nông nghiệp khác.

2. Nhóm đất nông nghiệp được quy định hai (02) vị trí theo địa giới hành chính của xã đồng bằng hoặc xã miền núi, cụ thể:

+ Vị trí 1: Áp dụng đối với các thửa đất có khoảng cách tính từ tim đường quốc lộ, tỉnh lộ, hương lộ, liên xã, liên thôn không quá 200m. Trường hợp thửa đất chỉ có một phần đất nằm trong phạm vi 200m thì cả thửa đất đó được tính theo vị trí 1. Ngoài ra vị trí 1 còn áp dụng cho các trường hợp sau:

- Các thửa đất trồng cây hàng năm ngoài phạm vi 200m canh tác 02 vụ lúa/năm;

- Các thửa đất làm muối cách tim đường nội đồng không quá 100m và đường nội đồng có chiều rộng từ 6m trở lên.

+ Vị trí 2: Áp dụng đối với thửa đất còn lại.

Điều 7. Giá đất nông nghiệp:

Bảng giá các loại đất nông nghiệp:

Đơn vị tính: đồng/m2

LOẠI ĐẤT

XÃ ĐỒNG BẰNG

XÃ MIỀN NÚI

Vị trí 1

Vị trí 2

Vị trí 1

Vị trí 2

Đất trồng cây hàng năm

18.000

12.000

7.000

4.000

Đất trồng cây lâu năm

18.000

14.000

7.000

4.000

Đất nuôi trồng thủy sản

14.000

10.000

4.000

2.000

Đất rừng sản xuất

6.500

4.500

2.000

1.200

Đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng

5.200

3.600

1.600

960

Đất làm muối

10.000

7.000

Một số khu vực có vị trí đặc biệt, giá đất nông nghiệp áp dụng theo bảng giá tại Khoản 1 Điều này và nhân thêm các hệ số điều chỉnh sau:

… b) Giá đất được quy định bằng 1,7 lần giá đất trồng cây lâu năm của vị trí 1 cùng vùng đối với đất nông nghiệp nằm trong địa giới hành chính các phường của thành phố Cam Ranh,…”

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

>> Xem thêm:  Tình huống chia tài sản thừa kế ? Phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật ?

3. Có được nhà nước cấp đất thổ cư không khi thu hồi đất không ?

Xin chào luật sư! Tôi tên là L, Ngày 07/11/2012, tôi được cán bộ tiếp dân của văn phòng HĐND và UBND TP.Bà Rịa làm việc về khiếu nại của gia đình tôi gửi cho UBND Thị xã Bà Rịa (Nay là Thành Phố Bà Rịa), với nội dung “ Không được công nhận 300m2 đất thổ cư tại giấy CNQSD đất đã cấp số Đ027589 và đã hướng dẫn tôi làm đơn xin xem xét để được giao đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà không nhận đất của Nhà nước giao. Nay tôi làm đơn này kính trình UBND TP. Bà Rịa xem xét giải quyết sự việc với nội dung như sau:
Năm 1985, tôi lấy chồng và nhập hộ khẩu về gia đình chồng tôi tại số nhà 09B, Phường Phước Trung, Thị xã Bà Rịa (trước đây là 1979 P.Phước Hưng). Nay là Thành Phố Bà Ria, do chị chồng tôi làm chủ hộ. Cho đến năm 1998 thì UBND TX.Bà Rịa có dự án quy hoạch giải tỏa để xây dựng Trung Tâm Thương Mại. Vì nằm trong diện di dời giải tỏa để xây dựng Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Nhà nước nên gia đình tôi đã chấp hành di dời, giao đất theo quy định của Nhà nước. Nhà nước đã bồi thường cho chủ hộ gia đình và có chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình thành viên một lô đất trả chậm tại Gò Cát 6 trị giá 8.000.000 đồng(Tám triệu đồng). Thời điểm đó số tiền 8.000.000 đồng đối với gia đình tôi là rất lớn, lúc đó gia đình tôi rất khó khăn về tài chính vì lúc đó chồng tôi lại đang bị bệnh nặng và đã qua đời năm 2011, nên gia đình tôi không có điều kiện để mua.
Trong thời gian tôi ở nhà chồng, cha tôi có cho tôi miếng đất mà cha tôi khai phá trước năm 1975. Và tôi có dựng một căn nhà lá ở để giữ đất.Cho tới khi Nhà nước kêu gọi đăng kí kê khai đất, do tôi không có hộ khẩu ở đây và do tôi không hiểu biết về Pháp luật nên tôi khai tên cha tôi là Ông K. Sau đó cán bộ địa chính xuống đo đạc xác minh đất để tiến hành cấp sổ “ Kê khai diện tích và thu nộp thuế nông nghiệp “ do Tỉnh Đồng Nai cấp ngày 05/03/1993, và ghi trong sổ tổng diện tích là 1200m2: trong đó có 300m2 đất thổ cư và 900m2 đất nông nghiệp. Nên khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng Trung Tâm Thương Mại, tôi không nhận đất mua trả chậm của Nhà Nước. Do thấy gia đình tôi khó khăn nên cha tôi là Ông K đã viết giấy tay cho gia đình tôi một phần diện tích đất tại thửa 32,45 tờ bản đồ số 23 trong sổ “Kê khai và thu nộp thuế nông nghiệp”, để làm nhà ở, có sự xác nhận của Ông V nguyên là trưởng khu phố lúc bấy giờ. Sau đó tôi cầm toàn bộ giấy tờ gồm đơn xin cất nhà, sổ “kê khai diện tích và thu nộp thuế nông nghiệp”, giấy cho đất của cha tôi ra Phường Long Toàn và được Ông L nguyên là cán bộ địa chính Phường Long Toàn lúc bấy giờ xác nhận. Sau đó tôi cầm hồ sơ xin cất nhà lên UBND Thị xã Bà Rịa ngày 12/03/1998 để xin phép xây nhà trên thửa đất 32.45 tờ bản đồ số 23 và được sự đồng ý của UBND Thị xã Bà Rịa (thể hiện tại phiếu đề xuất ý kiến của Phòng Quản Lí đô thị và Phòng Qui Hoạch TX.Bà Rịa).Sau khi cất nhà xong tôi chuyển hộ khẩu về ở và xin số nhà là 1/25B, KP3, P.Long Toàn. Hằng năm tôi vẫn đóng thuế nhà đất và thuế nông nghiệp mang tên tôi là L.
Đến năm 2003, cha tôi qua đời (có kèm giấy chứng tử) nên tôi làm thủ tục để phân chia thừa kế. Lúc đó cũng chính cán bộ địa chính Phường xuống đo đạc xác minh và làm thủ tục thừa kế cho tôi. Tới ngày 05/04/2004 tôi có quyết định số 1256 sử dụng đất tại thửa đất 32,45 tờ bản đồ số 23 mà trước đây do tôi đóng thuế. Đồng thời, năm 2012 Nhà nước có Quyết Định thu thuế phi nông nghiệp trên thửa đất 32 tôi đang ở cũng đều do tôi đóng và mang tên tôi chủ hộ. Gia đình tôi làm đơn khiếu nại ngày 09/11/2012 Cho đến ngày 01/04/2013 gia đình tôi vẫn không được giải quyết nên tiếp tục làm đơn kiến nghị lần 1 ngày 05/04/2013. Và chỉ được mời lên làm việcngày 08/07/2013 ( Có kèm biên bản làm việc ).Cho đến bây giờ vẫn chưa được xem xét giải quyết.
Xin luật sư cho tôi ý kiến .Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đất bị thu hồi do hết hạn sử dụng có được Nhà nước bồi thường không?

Luật sư tư vấn luật đất đai về thu hồi đất, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì 300m2 đất này đã được ghi lại trong sổ địa chính khi cán bộ địa chính tiến hành đo đạc để cấp sổ kê khai diện tích và thu nộp thuế nông nghiệp, theo đó trên sổ địa chính đã ghi rõ 300m2 đất này là đất thổ cư, cũng như việc cha bạn đã khai phá đất này trước năm 1993 theo quy định tại khoản 1 điều 20, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì khi hộ gia đình sử dụng đất có nhà ở, công trình khác từ trước ngày 15/10/1993 và được xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất và căn cứ theo hạn mức công nhận đất quy định tại khoản 4 điều 103 luật đất đai. Theo đó khi nhà nước tiến hành thu hồi thì phải bồi thường bằng tiền hoặc đất cùng mục đích sử dụng nếu địa phương đó có điều kiện về quỹ đất căn cứ theo điều 74 luật đất đai và bạn cần phải đáp ứng các yêu cầu tại điều 75 luật đất đai để được bồi thường khi nhà nước thu hồi. Theo đó gia đình bạn phải được bồi thường 300m2 đất thổ cư này khi bị thu hồi. Theo như những gì đã phân tích ở trên thì khi thu hồi và bồi thường mảnh đất 300m2 này đã không được công nhận là đất thổ cư là trái với các quy định tại Luật đất đai 2013. Như vậy bạn đã khiếu nại quyết định của UBND TP Bà Rịa lần hai mà vẫn chưa được giải quyết thì bạn có thể khởi kiện tại tòa án.

"Điều 8. Nội dung bản đồ địa chính

1.6. Nhà ở và công trình xây dựng khác: chi thể hiện trên bản đồ các công trình xây dựng chính phù hợp với mục đích sử dụng của thửa đất, trừ các công trình xây dựng tạm thời. Các công trình ngầm khi có yêu cầu thể hiện trên bản đồ địa chính phải được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình;"

"Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này"

"Điều 103. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao

4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;
b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;
c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất."

"Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật."

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Trong trường hợp cơ quan nhà nước không công nhận đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì phải bạn phải thuộc các trường hợp theo quy định khoản 2 điều Luật đất đai 2013, khi nhà nước không công nhận giấy chứng nhận này thì sẽ thu hồi lại:

"2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai".

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Mức bồi thường thỏa đáng đối với đất nông nghiệp khi bị nhà nước thu hồi ?

4. Tư vấn về đất rừng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có vấn đề xin được giải đáp như sau: Gia đình tôi cư trú tại Thành phố Yên bái, gia đình chồng tôi có một mảnh đất 150m vuông đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1996, sau khi mẹ tôi mất năm 2015 có sang tên bìa đỏ cho chồng tôi, còn hơn 200m vuông là đất rừng do bố mẹ tôi khai phá từ năm 1996 và đã trồng đồi cây keo và một số loại cây lâu năm từ năm 1996 đến nay, bố mẹ tôi có ý định sẽ chia cho 2 em chú của tôi san gạt để làm nhà, số đất đồi này chưa có giấy CNQSDĐ. Năm 2016 nhà nước mở đường qua quả đồi này của gia đình nhà tôi, đơn vị thi công có nói rằng chỉ đền bù tiền cây cối trồng trên quả đồi này, còn quả đồi này thuộc đất của phường nên phường thu lại và sẽ không đền bù đất ở quả đồi này cho gia đình nhà tôi.
Vậy tôi xin hỏi luật sư quả đồi này bố mẹ chồng tôi khai thác từ năm 1996 có thuộc sở hữu của gia đình tôi không? Việc đền bù của đơn vị thi công như vậy có đúng không khi mà hiện tại gia đình tôi chưa được phường nơi gia đình tôi cư trú thông báo, mới chỉ nghe được thông tin từ đơn vị thi công?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>>Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai gọi số:1900.6162

Trả lời

Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013:

Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định

1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.

Từ những căn cứ trên cho thấy nếu đất nhà bạn đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai 2013, kèm theo các căn cứ về việc sử dụng đất ổn định quy định tại Nghị định 43/2014NĐ-CP thì chỗ đất đó thuộc sở hữu của gia đình bạn.

Việc đền bù được thực hiện dựa trên các căn cứ pháp lý sau:

Luật đất đai 2013 quy định:

Điều 74. Nguyên tắc bồi thường vầ đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Do vậy, Căn cứ vào Khoản 1 Điều 74 nguyên tắc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất về đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75, theo đó Điều 75 quy định như sau:

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định điều kiện được bồi thường về đất khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên bạn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bạn có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa được cấp thì bạn vẫn được bồi thường về đất theo quy định của pháp luật.

Điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101 Luật đất đai 2013.

Ngoài ra bạn còn được bồi thường đối với cây trồng trên đất theo quy định tại điều 90 Luật đất đai 2013

Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

Do vậy, việc bồi thường không chỉ đối với cây trồng mà còn đối với cả diện tích đất trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

5. Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi nào ?

Thưa luật sư, Gia đình ông A sử dụng đất từ năm 1990 ( đất ở nông thôn, đất trồng rừng sản xuất), nay khu vực đất đó nằm trong qui hoạch khu di tích, nhưng chưa có cấp thẩm quyền nào ra quyết định thu hồi. nay cây Xoan ông A trồng đén tuổi khai thác đã chặt bán, vậy xin hỏi gia đình A chặt cây trồng bán đúng hay la sai?. Tập thể thôn có đơn đề nghị UBND xã giải quyết và trả lời, chúng tôi phải làm như thế nào, căn cứ điều nào, khoản nào của luật đất đai, để trả lời cho Thôn nơi ông A cư trú?
Xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:luật cư

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai 2013

Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Nội dung tư vấn:

Việc ông A chặt bán câyxoan trồng khi chưa có quyết định thu hồi đất trong trường hợp này là không trái pháp luật.Việc khiếu nại chỉ diễn ra khi cá nhân, tổ chức không đồng ý với hành vi, quyết định hành chính của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, trường hợp này, tập thể thôn khiếu nại để nghị UBND xã giải quyết là không có căn cứ.

Dạ xin anh chị giúp em với ạ Hiện nhà em có 40ha đất đã trông keo dc 2 năm rôi và đất đó nhà em đa khai hoang và làm tới nay đã hơn 10 năm Mà cách đây ít bữa xã gọi lên và thông báo thu hồi và cho nhà em 1 tháng phải phá để giao hiện trạng như cũ ạ mà keo nhà em mới dc có 2 năm nên ko thể bán được ạ Anh chị có thể giúp em được không ạ em cam ơn ạ

=> Thứ nhất, về thẩm quyền thu hồi đất, theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật đất đai về thẩm quyền thu hồi đất thì trường hợp thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình sẽ do Chủ tịch UBND huyện có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất. Do đó, ủy ban xã không có thẩm quyền thu hồi trong trường hợp này.

Thứ hai, việc UBND xã yêu cầu gia đình bạn phải phá cây keo để trả lại nguyên trạng mảnh đất là không đúng vì việc giải phóng mặt bằng sẽ nằm trong trình tự thu hồi đất chứ không thể thực hiện trước đó. Đối với vườn keo này cơ quan nhà nước sẽ xem xét và thực hiện phương án bồi thường cho gia đình bạn.

Bạn có thể tố cáo hành vi của UBND về hành vi trái pháp luật này.

Thưa luật sư, Trường hợp trong giấy CNQSDĐ đã cấp có nhiều thửa đất trong đó có 01 thửa do cấp sai chủ sử dụng thì Thu hồi cả giấy CNQSDĐ hay thu hồi 01 thửa cấp sai chủ sử dụng. Trong trường hợp người đúng tên trong giấy CNQSDĐ đạ chết thi ghi tên chủ sử dụng đất như thế nào

=> Trường hợp của bạn có thể thực hiện thủ tục đính chính giấy chứng nhận đã cấp theo quy định tại Khoản Điều 106 Luật đất đai 2013 như sau:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

Chào luật sư! Tôi muốn hỏi bố mẹ chồng tôi có một miếng đất hiện đang ở và muốn chia cho 3 nguời con trai.cụ thể là diện tích đất ở thì ít mà đất lấn chiếm thì nhìêu.vợ chồng tôi ở giữa,ông bà không đo phần đất này mà đo đất thổ cư 2 bên .còn vợ chồng tôi dồn lại chỉ là đất vườn liền kề mà thôi.vậy xin hỏi luật sư.chia như vậy có công bằng không và vợ chồng tôi bị thiệt gì so với 2 miếng ở 2 bên.bây gìơ chia phần đất ở làm 3 phần bằng nhau thì phần đất liền kề có bị thu hồi laị không.?

Việc tặng cho mảnh đất sẽ phụ thuộc vào ý chí của bố mẹ bạn. Trong trường hợp này, bạn không thể ý kiến về vấn đề phân chia đất của bố mẹ bạn được.

Xin chào! Tôi có thắc mắc về thẩm quyền đo đạc cấp giấy CNQSD đất cho hộ gia đình cá nhân của cấp xã. Cụ thể như cấp xã (địa chính xã) thì được đo đạc với diện tích từ bao nhiêu m2. Từ bao nhiêu m2 trở lên thì phải nhờ Văn phòng đăng ký đến để đo đạc. Xin cảm ơn!

=> Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

"Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu;"

Theo đó, đo đạc đất đai cũng là một trong những hoạt động dịch vụ của cơ quan này được quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Mặt khác, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

"Văn phòng đăng ký đất đai có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai được thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;"

Theo đó, việc đo đạc đất đai trong vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ do cơ quan đăng ký đất đai thực hiện. Pháp luật cũng không có quy định về trường hợp bao nhiêu m2 thì Cán bộ địa chính xã được đo đạc và bao nhiêu m2 Văn phòng đăng ký đến đo đạc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email:để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Đất đai - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Trình tự, thủ tục đền bù khi nhà nước thu hồi đất được quy định như thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Ai có quyền sở hữu đất đai?

Trả lời:

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định.

Câu hỏi: Những chủ thể được quyền sử dụng đất

Trả lời:

1. Tổ chức trong nước 

2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước

3. Cộng đồng dân cư

4. Cơ sở tôn giáo 

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao 

6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài

7. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 

Câu hỏi: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là

Trả lời:

hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó.