1. Hành vi hiếp dâm sẽ bị xử lý như thế nào?

Hiếp dâm là hành vi vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực xâm hại tình dục, hiếp dâm không chỉ ảnh hưởng tới chính nạn nhân mà còn ảnh hưởng tới an ninh, trật tự an toàn xã hội. Hành vi hiếp dâm có một dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với các hành vi xâm hại tình dục khác là chủ thể và ý chí của nạn nhân. Chỉ cần nạn nhân là người trên 16 tuổi và việc thực hiện hành vi quan hệ tình dục này là trái với ý muốn của nạn nhân tức nạn nhân không muốn thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Trong quy định của pháp luật hình sự cũng không giới hạn ở chủ thể của hành vi này có thể nam hoặc nữ nhưng trên thực tiễn rất ít trường hợp nữ giới thuộc đối tượng phạm tội của hành vi này.

Hành vi hiếp dâm là hành vi vi phạm pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật. Nếu người phạm tội đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định và tùy thuộc vào đối tượng của hành vi hiếp dâm, mức độ ảnh hưởng, hậu quả mà sẽ bị truy cứu theo tội danh tương ứng.

Hiếp dâm thuộc các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Hành vi này là lỗi cố ý do người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự gây ra trực tiếp xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của một con người. 

Nếu hành vi hiếp dâm mà đối tượng tác động là người trên 16 tuổi thì người thực hiện hành vi hiếp dâm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức phạt tù từ 02 năm đến cao nhất là 20 năm hoặc tù chung thân. Còn đối với đối tượng tác động của hành vi hiếp dâm là người dưới 16 tuổi (Điều 142 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người thực hiện hành vi sẽ phải đối diện với mức án từ 07 năm tù đến cao nhất phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc thậm chí là tử hình.

Ngoài độ tuổi của đối tượng tác động thì hành vi, mối quan hệ của nạn nhân và người phạm tội nếu thuộc các trường hợp cấu thành các tội danh khác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật.

 

2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm là gì?

Dấu hiệu pháp lý là dấu hiệu dùng làm cơ sở để căn cứ vào đó sẽ xem xét xem hành vi của một người có vi phạm pháp luật hình sự (phạm tội) hay không từ đó sẽ biết để truy cứu theo tội danh nào. Từ xác định được tội danh mới có thể biết được khung hình phạt và các biện pháp xử phạt đúng với mức độ, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội.

Dấu hiệu chung cho hành vi bị coi là tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự (hay còn gọi là tính được quy định trong luật hình sự) và cuối cùng tính phải chịu hình phạt. Ngoài ra còn phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

- Tính nguy hiểm cho xã hội của tội hiếp dâm: Tội hiếp dâm hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội vì chính khách thể mà nó xâm hại được pháp luật hình sự bảo vệ. Khách thể đó là quyền được bảo vệ về sức khỏe, bất khả xâm phạm về nhân phẩm, danh dự, uy tín hay thậm chí là ảnh hưởng đến tín mạng, quyền được sống của con người. Chính vì thế tội hiếp dâm đã xâm hại tới quan hệ mà được pháp luật bảo vệ, mà tính nguy hiểm của nó phải đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn những hành vi tuy có dấu hiệu của tội hiếp dâm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

- Tính có lỗi của tội hiếp dâm: Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của người phạm tội đối với hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội thực hiện. Trong tội hiếp dâm lỗi được thể hiện dưới dạng lỗi có ý. Thực chất người phạm tội hiếp dâm nhận thức được hành vi của mình là sai, trái với quy định của pháp luật nhưng vẫn lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi hiếp dâm đó. Cũng không thể phủ nhận có các trường hợp do khác quan tác động tạo điều kiện thuận lợi, cũng có thể là ép buộc thực hiện hành vi hiếp dâm nhưng đây vẫn là lỗi cố ý vì dù cho có ép buộc nhưng người phạm tội không muốn thực hiện, không lựa chọn thực hiện thì không đủ yếu tố vi phạm được. Người phạm tội thậm chí còn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm mà mình gây ra và mong muốn xảy ra hậu quả đó.

- Tính được quy định trong Bộ luật Hình sự của tội hiếp dâm: Một điều đương nhiên là không thể một hành vi tội phạm nào bị xét xử nếu nó không được quy định trong pháp luật hình sự. Không được quy định trong pháp luật hình sự thì tức là hành vi đó không phải tội phạm và cũng không phải chịu bất cứ chế tài hình sự nào. Theo khoản 1 Điều 2 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng nêu rõ chỉ người nào phạm tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với tội hiếp dâm thì được quy định tại Chương XIV Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; Điều 141 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tính phải chịu hình phạt của tội hiếp dâm: Theo quy định thì tội hiếp dâm sẽ có 04 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung. Với 04 khung hình phạt chính tương ứng với các mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấp đến cao với khung hình phạt thấp nhất là từ 02 năm đến 07 năm tù và khung hình phạt cao nhất là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Với khung hình phạt bổ sung thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 

3. Cấu thành tội hiếp dâm

Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

- Mặt khách thể của tội hiếp dâm: Khách thể mà tội hiếp dâm xâm hại đến chính là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự và uy tín của con người.

- Mặt chủ thể của tội hiếp dâm: Là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cụ thể theo quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì tội hiếp dâm thì người người từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm. Ngoài ra, năng lực trách nhiệm hình sự của họ muốn đủ thì họ cũng không thuộc các trường hợp mắc các bệnh về hạn chế năng lực như tâm thần, ...

- Mặt khách quan của tội hiếp dâm: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

Dùng vũ lực là dùng sức mạnh về thể chất như trói, giữ, đè, ghì, bịp tay chân miệng, ... của nạn nhân làm nạn nhân mất hoặc hạn chế khả năng tự phòng vệ, chống trả.

Đe dọa dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói, cử chỉ, động tác nhưng chưa tác động vào thể xác mà chỉ tác động vào tâm lý của nạn nhân làm cho nạn nhân hiểu rằng nếu không làm theo ý người phạm tội thì hành vi dùng vũ lực sẽ bị diễn ra ngay lập tức.

Một điều quan trọng của tội hiếp dâm là giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái với ý muốn của họ. Nếu việc giao cấu hoặc quan hệ tình dục được nạn nhân đồng ý thì không được coi là hành vi hiếp dâm. Hành vi hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan trên chứ không hẳn là khi xảy ra hậu quả là hành vi giao cấu và quan hệ tình dục được thực hiện xong. Tội hiếp dâm là tội phạm có cấu thành hình thức, nếu tự ý chấm dứt hành vi phạm tội thì có thể xem xét không truy cứu về hành vi này nhưng đủ yếu tố sẽ truy cứu với các tội danh khác.

- Mặt chủ quan của tội hiếp dâm: Hành vi phạm tội của người phạm tội là lỗi cố ý.

Ngoài nội dung trên, quý khách hàng có thể tham khảo bài viết có nội dung tương tự tại địa chỉ: Dấu hiệu pháp lý và cách phân loại của các tội xâm phạm quyền sở hữu.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!