Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Giao kết hợp đồng là gì?

Căn cứ quy định tại Điều 385 Bộ Luật Dân sự 2015 thì hợp đồng được hiểu "là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".

Theo đó, giao kết hợp đồng được hiểu là việc các chủ thể bày tỏ ý chí với nhau thông qua việc đàm phán giữa các bên, trao đổi, thương lượng từ đó nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Đây được xem là giai đoạn thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng.

Như vậy, hợp đồng chỉ được xác lập nếu các bên đã thể hiện ý chí với nhau về nội dung của hợp đồng và đạt được sự thỏa thuận về nội dung đó. Vì vậy giao kết hợp đồng là một quá trình thể hiện và tiếp nhận ý chí của các bên thông qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết hợp đồng và trả lời đề nghị giao kết hợp đồng.

2. Đề nghị giao kết hợp đồng

2.1 Khái niệm

Bộ Luật Dân sự 2015 tại Điều 386 quy định:

"Điều 386. Đề nghị giao kết hợp đồng

1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).

2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh."

Đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của bên đề nghị về ý định giao kết hợp đồng với bên được đề nghị (là bên đã được xác định hoặc công chúng) và chịu sự ràng buộc về đề nghị này.

Lời đề nghị giao kết hợp đồng nếu hội tụ đủ các yếu (dấu hiệu) sau đây:

- Phải thể hiện rõ ý định muốn xác lập với bên kia một hợp đồng. Mong muốn của bên đề nghị là được bên kia chấp nhận lời đề nghị. Chỉ được coi là "thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng" nếu đề nghị đã đủ cụ thể cho phép hình thành hợp đồng khi được chấp nhận. Vì thế, nội dung của đề nghị phải xác định rõ những điều khoản chủ yếu của hợp đồng dự định sẽ ký kết.

- Đề nghị với ai phải được xác định. Trong trường hợp bên đề nghị chỉ có khả năng giao kết, thực hiện hợp đồng với một hoặc một số đối tác nhất định thì lời đề nghị phải được gửi tới bên đã được xác định. Theo đó, trong thời hạn chờ trả lời mà bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với bên thứ ba làm cho bên được đề nghị bị thiệt hại do không được giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại đó. Trong trường hợp bên đề nghị có khả năng giao kết và thực hiện hợp đồng với nhiều đối tác khác nhau thì lời đề nghị được gửi tới công chúng thông qua hệ thống thông tin chính thức của bên đề nghị hoặc thông qua các phương thức khác.

Xét về nguyên tắc giao kết hợp đồng thì khi giao kết hợp đồng, các chủ thể phải tuân theo các quy tắc chung được quy định tại Điều 3 Bộ Buật Dân sự 2015:

"Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự"

Cụ thể đó là:

– Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

– Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng

2.2 Phương thức đề nghị

Đề nghị giao kết hợp đồng có thể thực hiện theo một trong hai phương thức sau:

- Đề nghị trực tiếp: theo phương thức đề nghị giao kết hợp đồng trực tiếp thì các bên trực tiếp mặt đối mặt, lời đối lời để đề nghị và nghe đề nghị của nhau. Bên được đề nghị có thể trả lời ngay về việc được chấp nhận hoặc không chấp nhận lời đề nghị của bên đề nghị, trường hợp sẽ trả lời trong một thời gian nhất định thì các bên ấn định thời hạn trả lời. Thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định theo phương thức này do các bên thỏa thuận ấn định.

- Đề nghị gián tiếp: theo phương thức đề nghị giao kết hợp đồng gián tiếp thì bên đề nghị gửi giao kết hợp đồng đến bên được đề nghị. Thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định theo phương thức này do bên đề nghị ấn định.

2.3 Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng

Bộ Luật Dân sự 2015 quy định:

"Điều 388. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực

1. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:

a) Do bên đề nghị ấn định;

b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

2. Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:

a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;

b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;

c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác."

Theo đó, đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm do bên đề nghị ấn định. Nếu bên đề nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực theo các thời điểm sau:

Thứ nhất, đề nghị được chuyển tới nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú), nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;

Thứ hai, đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;

Thứ ba, khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.

Đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực trong thời hạn trả lời và coi như không còn hiệu lực nếu bên đề nghị đã rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mà việc rút lại đề nghị phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì được coi là đề nghị mới.

3. Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng

3.1 Khái niệm

Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng là việc bên được đề nghị thể hiện ý chí của mình về việc đồng ý hay không đồng ý đối với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra trong đề nghị giao kết hợp đồng.

3.2 Nội dung

Việc trả lời đề nghị có thể theo một trong ba nội dung sau đây:

- Không chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng: Khi bên được đề nghị không chấp nhận việc giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị thì họ co thể trả lời đề nghị và hết thời hạn chờ trả lời đề nghị thì coi như bên được đề nghị không chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp các bên đã thỏa thuận "im lặng" là đồng ý chấp nhận giao kết hợp đồng. Hình thức trả lời, thì bên được đề nghị có thể trả lời trực tiếp hoặc bằng công văn về việ không chấp nhận giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị.

- Đồng ý giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc có sửa đổi đề nghị: trong trường hợp đồng ý giao kết hợp đồng nhưng phải tuân theo điều kiện của bên được đề nghị giao kết hoặc phải thay đổi một số nội dung nhất định đối với đề nghị của phía bên kia thì bên được đề nghị nêu điều kiện và nội dung sửa đổi trong trả lời đề nghị. Trả lời đề nghị theo nội dung này được coi là một đề nghị mới của bên đã được đề nghị. Theo đó tại Điều 392 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định:

"Điều 392. Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất

Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới."

- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: là sự trả lời của bên được đề nghị đối vơi bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Điều 393 Bộ Luật Dân sự 2015 đã cụ thể hóa nội dung này như sau:

"Điều 393. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.

2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên."

Theo đó , khi có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi thực hiện trong thời hạn đó; khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý. Nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng khi đã hết thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì chấp nhận này được coi là lời đề nghị giao kết hợp đồng mới của bên chậm trả lời đề nghị giao kết hợp đồng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê