1. Đi làm sớm sau khi nghỉ thai sản có phải đóng bảo hiểm xã hội?

Theo quy định của khoản 2 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và hướng dẫn từ Điều 12 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, có các điểm sau:

- Mức hưởng chế độ thai sản: Quy định rằng người lao động sẽ được hưởng chế độ thai sản khi có thai và nghỉ việc một khoảng thời gian để chăm sóc thai phụ sau khi sinh con. Mức hưởng được xác định theo quy định của pháp luật và các quy định hướng dẫn cụ thể của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

- Thời gian nghỉ việc và đóng bảo hiểm xã hội: Khoản này quy định rằng thời gian nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản sẽ được tính từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng. Trong thời gian này, cả người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội. 

Thực tế cho thấy, khi nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản trong tháng, nếu thời gian nghỉ là từ 14 ngày làm việc trở lên, thì thời gian đó được tính vào việc đóng bảo hiểm xã hội. 

Dựa vào quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, việc đóng bảo hiểm xã hội trong trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con được hướng dẫn như sau:

- Thời gian nghỉ việc và đóng bảo hiểm xã hội:

+ Thời gian nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.

+ Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định, thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

+ Kể từ thời điểm đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con, lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn.

- Đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế: Trong thời gian đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con, cả người lao động và người sử dụng lao động phải tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

- Trách nhiệm của cơ quan đăng ký hộ tịch: Trong trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó, Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh.

Theo quy định tại điểm 6.3 của khoản 6 Điều 42 trong Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế, ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH năm 2017, có các quy định sau:

- Quản lý đối tượng: Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN trong thời gian này. Tuy nhiên, thời gian này vẫn được tính là thời gian đóng BHXH, nhưng không được tính là thời gian đóng BHTN. Đồng thời, cơ quan BHXH sẽ đóng BHYT cho người lao động trong thời gian này.

- Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con: Thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng BHXH. Từ thời điểm đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con, lao động nữ và đơn vị sẽ phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN.

Do đó, khi lao động nữ quay lại công việc sớm sau thời gian nghỉ sinh con, cô ấy sẽ phải bắt đầu đóng bảo hiểm xã hội từ thời điểm đi làm trở lại. Tuy nhiên, trong trường hợp tháng đó cô ấy chỉ làm việc dưới 14 ngày, thì sẽ không phải đóng bảo hiểm xã hội cho tháng đó. Điều này được quy định nhằm đảm bảo tính công bằng và linh hoạt trong việc áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho lao động nữ sau khi nghỉ sinh con và trở lại làm việc.

 

2. Thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ

Căn cứ vào khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ như sau:

- Lao động nữ được quyền nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con trong khoảng thời gian là 6 tháng. Trong đó, thời gian nghỉ trước khi sinh không vượt quá 2 tháng.

- Đối với trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên, tính từ khi sinh con thứ hai trở đi, mỗi khi có thêm một con, thời gian nghỉ thai sản sẽ được gia tăng thêm 1 tháng.

Theo khoản 3 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, quy định về thời gian hưởng chế độ khi sinh con như sau:

- Thời gian hưởng chế độ khi sinh con: Lao động nữ được hưởng chế độ nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con trong thời gian là 6 tháng, tính từ ngày sinh con.

- Trường hợp con mới sinh chết:

+ Nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết, thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con.

+ Nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết, thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con chết.

+ Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định trên, và không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.

Như vậy, theo quy định thì bình thường lao động nữ sẽ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng, nhưng trong trường hợp con mới sinh chết, thời gian nghỉ việc có thể điều chỉnh tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ khi qua đời.

 

3. Lao động nữ đáp ứng điều kiện gì để được đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con?

Như đã được đề cập, thông thường lao động nữ sẽ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con trong khoảng thời gian là 6 tháng.

Tuy nhiên, để có thể trở lại làm việc trước thời gian nghỉ thai sản, người lao động phải đáp ứng được điều kiện tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động 2019 về điều kiện đi làm trước thời gian nghỉ thai sản. Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 4 tháng, nhưng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Báo trước cho người sử dụng lao động về ý định muốn đi làm sớm.

- Được sự đồng ý của người sử dụng lao động.

Có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi và sức khỏe của người lao động trong quá trình trở lại làm việc sau thời gian nghỉ thai sản.

=> Như vậy, để có thể đi làm sớm sau thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ cần đảm bảo 3 điều kiện quan trọng sau:

- Đã nghỉ ít nhất được 04 tháng hưởng chế độ thai sản theo quy định.

- Có được xác nhận từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không gây hại cho sức khỏe của người lao động. Điều này giúp đảm bảo rằng việc trở lại làm việc sớm không ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động.

- Nhận được sự đồng ý từ phía người sử dụng lao động. Điều này là quan trọng để đảm bảo tính hòa thuận và sự thống nhất trong quá trình điều chỉnh lịch trình làm việc sau thai sản.

Quý khách xem thêm bài viết sau: Thời gian nghỉ thai sản theo quy định là 6 tháng hay 180 ngày?

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.