1. Chồng ở nước ngoài thì vợ có được tự ý bán nhà đất không ? 

Chúng ta đều biết khi một tài sản được xác định là tài sản chung của vợ chồng thì việc chuyển nhượng tài sản đó đều phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng. Nhưng nếu nhà đất đó được xác định là tài sản riêng thì người chủ sở hữu tài sản (người sử dụng đất) hoàn toàn có quyền định đoạt đối với tài sản đó mà không cần sự đồng ý của bên còn lại. Điều này đã được quy định chi tiết tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung sẽ do vơ chồng thoả thuận và sự thoả thuận này phải được lập bằng văn bản trong những trường hợp có tài sản chung là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình

Như vậy để trả lời cho câu hỏi, chồng ở nước ngoài thì vợ có được tự ý bán nhà đất không, trước hết chúng ta cần phải xem xét vợ chồng đăng ký kết hôn có tại Việt Nam hay không để còn áp dụng chế định tài sản chung của vợ chồng trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014? Trong trường hợp nếu vợ chồng có một bên là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam hoặc có ghi chú kết hôn tại Việt Nam thì chế định tài sản chung sẽ áp dụng theo Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam. Và theo chế định thì tiếp đến chúng ta cần phải xác định được rõ tài sản là nhà đất ở đây là loại tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Theo đó, nếu nhà đất là tài sản riêng của người vợ thì người vợ hoàn toàn có quyền tự định đoạt phần tài sản này mà không cần ý kiến của người chồng, dù người chồng ở nước ngoài hay ở trong nước. Nếu nhà đất được xác định là tài sản chung của vợ chồng thì bắt buộc dù người chồng đang ở Việt Nam hay đang ở nước ngoài thì việc bán nhà đất đều cần phải có sự đồng ý của người chồng bằng văn bản. 

Mời quý khách tham khảo thêm bài viết: Phân biệt tài sản chung và tài sản riêng của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân?

 

2. Làm sao để bán nhà đất khi chồng đang ở nước ngoài? 

Trong trường hợp đã xác định được việc bán nhà đất phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng như đã phân tích ở mục 1 của bài viết thì lúc này thủ tục để người vợ được quyền bán nhà đất khi người chồng đang ở nước ngoài sẽ được thực hiện theo thủ tục uỷ quyền. Cụ thể như sau: 

Đầu tiên, người chồng ở nước ngoài cần phải lập một hợp đồng uỷ quyền về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp cùng với hồ sơ công chứng hợp đồng uỷ quyền đến Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài nơi người chồng đang sinh sống. Thành phần hồ sơ sẽ bao gồm: 

- Văn bản đề nghị công chứng, ghi rõ yêu cầu công chứng về việc uỷ quyền bán nhà đất cùng thông tin của người yêu cầu ở đây là người chồng và thông tin của cơ quan công chứng 

- 01 bản sao hộ chiếu 

- 01 bản sao giấy phép cư trú tại nước sở tại (trường hợp giấy phép cư trú dán trong hộ chiếu thì chụp trang hộ chiếu liên quan; trường hợp giấy phép cư trú là thẻ nhựa thì chụp thẻ nhựa)

- 01 bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng 

- 01 bản sao các giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mua bán đất 

Sau khi chuẩn bị được hồ sơ thì người chồng đến trực tiếp cơ quan có thẩm quyền nêu trên để tiến hành việc công chứng và gửi bản công chứng đó về địa phương nơi người vợ đang cư trú tại Việt Nam. Sau đó người vợ sẽ cầm bản hợp đồng uỷ quyền đã được công chứng ở nước ngoài đó đến tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam để tiến hành công chứng một lần nữa. Khi đã hoàn thành thủ tục công chứng này tại Việt Nam thì người vợ hoàn toàn có quyền tiến hành thủ tục mua bán, chuyển nhượng nhà đất theo đúng những gì đã thoả thuận với người chồng và nội dung hợp đồng uỷ quyền. 

 

3. Chồng có thể lấy lại nhà đất do vợ tự ý bán không? 

Việc người vợ chưa bàn bạc với người chồng ở nước ngoài và không tiến hành được các thủ tục uỷ quyền như đã nêu ở trên thì theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, người chồng khi biết về hành vi đó hoàn toàn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. 

Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi hợp đồng mua bán đất của các bên đã được công chứng nhưng bị Toà án tuyên vô hiệu thì sẽ không phát sinh cũng như không thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Các bên sẽ phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của giao dịch và hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Bên mua sẽ trả lại đất, nhà cho bên bán. Còn bên bán thì sẽ trả lại tiền đã nhận từ việc bán cho bên mua. Nếu như bên mua không thể trả được bằng đúng tài sản giao dịch ở đây là nhà, đất thì sẽ phải quy ra tiền để trả lại bằng tiền tương ứng với giá trị nhà, đất đã nhận mua. 

Bên cạnh đó, trong trường hợp người chồng chứng minh được nếu việc tự ý bán nhà của vợ mình có gây ra thiệt hại thì người vợ sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự. 

Về thủ tục để yêu cầu Toà án tuyên giao dịch mua bán nhà của người vợ vô hiệu, người chồng cần chuẩn bị một bộ hồ sơ bao gồm: 

- Đơn yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu 

- Chứng cứ chứng minh rằng giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người vợ là vô hiệu (ví dụ giấy tờ về quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, hợp đồng mua bán,....)

- Các tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại do vi phạm hợp đồng nếu có 

- Giấy tờ tuỳ thân của người chồng (chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn hoặc đơn xác nhận nơi cư trú...) 

Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ thì người chồng tiến hành nộp 01 bộ hồ sơ đến Toà án nơi tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện công chứng hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người vợ trước dây. Toà án sẽ giải quyết đơn yêu cầu và đưa ra quyết định tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó vô hiệu trong thời gian ít nhất là 02 tháng (gồm 01 tháng xét đơn yêu cầu, mở phiên họp,...) theo quy định. 

Từ những phân tích ở trên có thể thấy, nếu người vợ muốn bán đất là tài sản chung của người chồng mà người chồng đang ở nước ngoài thì vợ chồng có thể tiến hành thủ tục uỷ quyền theo quy định. Nếu người vợ vẫn cứ tự ý tiến hành mà chưa bàn bạc với người chồng thì người chồng vấn hoàn toàn có thể lấy lại nhà đất nếu như có đủ căn cứ chứng minh việc bán đất của người vợ là vi phạm quy định của pháp luật về tài sản chung giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. 

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Đi nước ngoài vợ ở nhà bán đất có được hay không? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc! 

Nếu quý khách có nhu cầu báo phí dịch vụ, quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất.