- 1. Khái niệm di sản.
- 2. đặc trưng của di sản thừa kế.
- 3. Thành phần và cách xác định di sản thừa kế.
- 3.1. Tài sản riêng của người chết
- 3.2. Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
- 3.3. Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.
- 3.4. Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình.
- 4. Phân chia di sản trong một số trường hợp cụ thể
1. Khái niệm di sản.
Trên thực tế hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về di sản, tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế và chếđộ sở hữu mà trong từng thời kỳ, di sản được qui định một cách khác nhau..Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào và trong bất kỳ giai đoạn nào của một quốc gia thì khi nói đến di sản thừa kế đều phải nói đến các tài sản thuộc quyền sở hữu mà cá nhân đã để lại sau khi họ chết. Hệ luận của việc sở hữu nên muốn thực hiện việc thừa kế dù theo di chúc hay theo pháp luật thì việc đầu tiên và cơ bản nhất là phải xác định được tài sản nào thuộc quyền sở hữu của người chết để lại (nghĩa là phải xác định được di sản thừa kế). Nếu người chết không để lại di sản hoặc không xác định được di sản mà họ để lại thì không thể nói đến việc chia thừa kế.
Muốn thực hiện việc thừa kế dù theo di chúc hay theo pháp luật thì việc đầu tiên và cơ bản nhất là phải xác định được tài sản nào thuộc quyền sở hữu của người chết để lại (nghĩa là phải xác định được di sản thừa kế). Nếu người chết không để lại di sản hoặc không xác định được di sản mà họ để lại thì không thể nói đến việc chia thừa kế.
Di sản nói chung được hiểu theo hai nghĩa, theo nghĩa rộng thì di sản là tất cả những gì mà thời trước để lại, theo nghĩa hẹp thì di sản là tài sản của người chết để lại.
Bên cạnh đó, Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về khái niệm di sản như sau:
“Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Phần tài sản riêng của người để lại di sản cần được xác định dựa vào giấy tờ hợp pháp, tài liệu, căn cứ chứng minh tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản.
Đối với tài sản nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng thì khi một trong hai người chết đi thì một nửa trong khối tài sản chung đó sẽ là di sản thừa kế của người chết.
Đối với phần tài sản chung với người khác bằng hình thức góp vốn, được tặng cho chung, thừa kế chung, mua chung với người khác thì di sản của người chết là phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết đó trong khối tài sản chung (dựa vào những thỏa thuận có từ trước đó hoặc các giấy tờ hợp pháp do cơ quan có thẩm quyền xác nhận, ban hành.
2. đặc trưng của di sản thừa kế.
Theo nguyên tắc một người còn sống sẽ xác lập các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ pháp luật về sở hữu đối với các loại tài sản.
Còn di sản thừa kế lại có tính đặc thù của nó, chỉ phát sinh khi có cái chết của một người nào đấy. Vì vậy tại thời điểm đó sẽ phát sinh thừa kế và các quan hệ thừa kế đối với di sản.
Việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng để xác định được tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản . Đây cũng là điểm mấu chốt để nhận biết sự khác nhau giữa di sản và tài sản. Trước khi 1 người chết thì được gọi là tài sản nhưng sau khi mất thì được chuyển thành di sản.
Di sản đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, nếu không thì sẽ coi như người chết không để lại di sản.
Tài sản đó phải là tài sản được phép lưu thông dân sự. Hay nói cách khác, những tài sản đó phải là tài sản hợp pháp.
3. Thành phần và cách xác định di sản thừa kế.
3.1. Tài sản riêng của người chết
Đây là phần tài sản mà mỗi một cá nhân đều có được thông qua lao động sản xuất hoặc các giao dịch dân sự hợp pháp. Tài sản riêng của người chết được hiểu là toàn bộ tài sản mà thuộc sở hữu của cá nhân người đó, vì thế khi thực hiện các quyền năng về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản, cá nhân không bị chi phối bởi bất kỳ một chủ thể nào, trừ sự chi phối của pháp luật.
Căn cứ theo quy định tại Điều 205 Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu riêng và tài sản riêng được quy định như sau:
Tài sản riêng của cá nhân là những tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng và giá trị. Tài sản riêng của cá nhân có thể được hình thành từ các nguồn như thu nhập từ lao động sản xuất, kinh doanh, được tặng cho riêng, được thừa kế riêng, quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, thu nhập khác.
Theo quy định của Luật Hôn nhân & gia đình 2014, vợ chồng có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ, chồng có thể được hình thành từ nguồn sau:
- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân & gia đình. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đã chia là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng;
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng;
- Tài sản khác mà theo quy định pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
3.2. Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng.
Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân & gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân khi vợ chồng đã thực hiện chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định.
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
- Tài sản hình thành trong trường hợp vợ, chồng tự nguyện nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.
- Từ thời điểm việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.
3.3. Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.
Căn cứ theo quy định tại Điều 207 Bộ luật dân sự 2015 quy định về sở hữu chung như sau:
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Quyền sở hữu chung được xác lập theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật và theo tập quán.
3.4. Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình.
Căn cứ theo quy định tại Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015, di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung của các thành viên trong gia đình được quy định như sau:
- Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.
- Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật dân sự 2015.
4. Phân chia di sản trong một số trường hợp cụ thể
Theo quy định tại Điêu 662 BLDS, việc phân chia đi sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì được giải quyết như sau:
– Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
– Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.