1. Thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với đất đai ?

Thưa luật sư, xin cho tôi hỏi bố tôi đã mất, ông có để lại một thửa đất là tài sản của riêng ông, bố tôi để lại di chúc cho tôi, di chúc được công chứng hợp pháp theo đúng quy định của Pháp luật, bây giờ tôi muốn sang tên cho tôi thì tôi phải làm những gì ?
Mong được tư vấn, trân trọng cám ơn.

Trả lời:

Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015; Luật Đất Đai 2013. và Luật công chứng 2014. Vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai thì những thủ tục mà bạn phải thực hiện bao gồm:

1. Làm thủ tục khai nhận di sản tại phòng công chứng:

Quy trình khai nhận di sản tại phòng công chứng: Người yêu cầu công chứng nộp các giấy tờ sau cho công chứng viên/ cán bộ thụ lý hồ sơ

Nơi tiếp nhận hồ sơ: Phòng công chứng

Hồ sơ thủ tục bao gồm: Bản sao có công chứng các giấy tờ sau:

- Sơ yếu lý lịch của người được nhận di sản thừa kế

- CMND/ hộ chiếu, hộ khẩu của những người sau: cha, mẹ bạn và của bạn

- Hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền (trong trường hợp xác lập giao dịch thông qua người đại diện)

- Giấy chứng tử của cha, mẹ bạn

- Di chúc

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là di sản thừa kế của cha mẹ bạn ( giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, giấy phép mua bán, hợp thức hóa nhà do Ủy ban nhân dân quận, huyện cấp , sổ tiết kiệm, cổ phiếu, giấy chứng nhận cổ phần…).

Số lượng hồ sơ: 1 bộ.

Tiếp đó, Công chứng viên ra thông báo để niêm yết tại UBND xã, phường, thị trấn nơi người để lại di sản thường trú cuối cùng.

Sau khi nhận lại bản niêm yết thừa kế có xác nhận của UBND phường, xã mà không có tranh chấp, khiếu kiện, Công chứng viên hẹn ngày lên ký kết văn bản khai nhận/ thỏa thuận phân chia di sản

Vào ngày hẹn, người thừa kế mang theo toàn bộ bản chính các giấy tờ đã nộp cho phòng công chứng đến ký kết văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

2. Sau khi văn bản thỏa thuận phân chia di sản được xác nhận, bạn tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã nơi có đất theo thủ tục sau:

- Bước 1: Bên thừa kế nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức). Nếu bên thừa kế không có di chúc hoặc bản án thì phải đến công chứng làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế hoặc chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Trường hợp có tranh chấp thì phải giải quyết xong tranh chấp.

- Bước 2: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

- Bước 3: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế (nếu chủ nhà không thuộc diện phải nộp hoặc được miễn nộp nghĩa vụ tài chính thì không có bước này).

- Bước 4: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạn cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

3. Hồ sơ đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở:

Bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

- Các giấy tờ về thừa kế như: Di chúc, Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng nhà nước);

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người để lại di sản;

- Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế của người chết làm cơ sở miễn nộp nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập cá nhân).

- Giấy chứng tử;

- Tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

Lệ phí trước bạ là 0,5% theo quy định của Nghị định 80/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008. Giá đất để tính lệ phí trước bạ là giá đất do UBND tỉnh ban hành áp dụng tại thời điểm đăng ký nộp lệ phí trước bạ.

Bạn có thể liên hệ với Phòng Tài Nguyên Môi Trường nơi có miếng đất đó để biết rõ hơn về trình tự thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Tư vấn thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Có thể lấy lại được phần đất thừa kế đã cho trước đó không ?

Thưa Luật sư! Trước năm 1994 trên mãnh đất hiện tại mang tên ông nội tôi (có trong bản đồ 299 ở UBND xã; lúc đó bố mẹ tôi ở với ông bà ). Đến cuối năm 1994 khi bố mẹ tôi làm lại nhà và từ đó mãnh đất này lại đổi sang tên của bố tôi (có tên trong bản đồ 371) từ đó đến nay bố mẹ tôi sinh sống với ông bà nội và hàng năm vẫn đóng thuế (vì lúc đó ở xã tôi nhiều hộ gia đình cũng vậy). Năm 1999 bà nội tôi mất; năm 2002 bố tôi có viết một tờ giấy nội dung: ông nội cho bố tôi toàn bộ đất đai nhưng cuối tờ giấy bố tôi ký tên vào chứ không phải ông nội vì lúc đó ông nội bị mù (bố tôi ký tên ông nội vào). Và cũng năm 2002 với chính sách và thủ tục đó bố tôi được UBND huyện cấp giấy chứng nhận đất (vì lúc đó quản lý đất đai ở chính quyền là vậy).
Năm 2003 ông nội tôi mất không để lại di chúc ( Vì trước năm 1994 mãnh đất đó đang mang tên ông nội tôi). Năm 2012 bố tôi có viết một tờ giấy cho em gái của bố 100m2 đất với nội dung: Là thực hiện di chúc của ông nội tôi nên 6 anh em thống nhất cho em gái của bố 100m2 đất; cuối biển bản 6 anh, em của bố ký tên vào hết; nhưng giấy này không có chứng thức và xã xác nhận. Hiện tại bố tôi không muốn cho mãnh đất đó nữa vì em gái của bố sau khi nhận đất muốn bán cho người khác.
Vây xin luật sư bớt chút thời gian giải đáp cho tôi một số điều: Em gái và các anh, em của bố tôi muốn lấy 100m2 và đồng thời muốn kiến toàn bộ mãnh đất đó có được không ? Ra tòa án thì bố tôi có bị thu hồi giấy sử dụng đất đó không ?
Xin chân thành cảm ơn!

Thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với đất đai

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, theo Điều 649 của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định về hình thức của di chúc:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.

Và Điều 652 quy định về Di chúc hợp pháp:

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Theo bạn đề cập bố bạn viết một tờ giấy cho em gái của bố 100m2 đất với nội dung: Là thực hiện di chúc của ông nội bạn, 6 anh em thống nhất cho em gái của bố 100m2 đất; cuối biển bản 6 anh, em của bố ký tên vào hết; nhưng giấy này không có chứng thức và xã xác nhận. Tuy nhiên tham chiếu theo các căn cứ trên thì di chúc của người bị hạn chế về thể chất phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực/hoặc là di chúc bằng miệng thể hiện ý chí mong muốn của ông bạn thì khi thực hiện di chúc miệng phải có ít nhất 2 người người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. Có nghĩa là dù trong trường hợp nào thì di chúc cho mảnh đất này cũng cần công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, với tình huống của bạn thì ông không để lại di chúc, do đó việc bố bạn viết giấy cho em gái 100m2 đất thì giấy tờ di chúc cho 100m2 này chưa tuân theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, như bạn đã cung cấp, người em gái muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác thì người em gái phải có đầy đủ giấy tờ liên quan mới có thể chuyển nhượng, trong đó có bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có chứng thực) mang tên người em gái này. Do đó nếu phần đất này đã mang tên em gái bố bạn thì việc đòi lại mảnh đất này là chưa hợp lí.

Thứ ba, theo Điều 106 của Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội thì:

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

Điều này được hướng dẫn chi tiết, cụ thể Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Qua các căn cứ trên bạn có thể xác định được bố bạn có bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Thời hiệu khởi kiện chia tài sản thừa kế ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có vấn đề cần luật sư tư vấn như sau: Cha mẹ tôi chết để lại cho 4 chị em tôi 400m2 đất (đất khai hoang từ năm 1975, khu vực này đã quy hoạch nhà ở, tuy nhiên cha mẹ tôi chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Năm 2012 chị tôi có xin chuyển đổi quyền sử dụng đất 200m2 nơi khác đang canh tác thì Ủy ban lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh rể và chị tôi ngay trên đất của bố mẹ tôi để lại.Anh chị em tôi đã khiếu nại nhưng UBND huyện trả lời cấp thế là đúng.
Xin hỏi: Nay anh chị em tôi khởi kiện vụ án hành chính có được không? có còn thời hiệu không? - Hoặc khởi kiện tranh chấp thừa kế yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho anh chị tôi có được không?
Xin trả lời sớm, tôi chân thành cám ơn.!

Cách chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư phân tích:

Thứ nhất, về thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại Điều 159 Khoản 3 Bộ luật tố tụng dân sự 2011 như sau:

"3. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau:

a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện;

b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm."

Theo như được biết, mảnh đất là do bố mẹ của bạn để lại và giờ học đã mất, nếu không có di chúc để lại, thì tất cả anh em bạn đều là hàng thừa kế theo pháp luật, và là đồng sở hữu mảnh đất đó. Như vậy, trường hợp này là tranh chấp về quyền sử dụng đất nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện, vì vậy khi thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm, bạn có thể khởi kiện bất cứ khi nào.

Thứ hai, về việc hủy bỏ GCN QSDĐ:

Điều 98 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

"Điều 98. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

2. Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện."

Như vậy, có thể thấy trong trường hợp này, khi cấp GCN QSDĐ thì tên của anh em bạn phải được ghi đầy đủ vào đó và mỗi người được 1 bản.

"Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai."( Luật đất đai)

Với trường hợp của bạn, việc chính quyền xã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị gái bạn là không hợp lệ do không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hay tặng cho, di chúc của bố mẹ bạn để lại… Do đó, áp dụng điểm d khoản này thì Nhà nước có thể thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị gái bạn.

Trong trường hợp bạn yêu cầu chính quyền xã mà họ không tiến hành kiểm tra và thu hồi thì bạn có thể làm đơn khiếu nại lên Tòa án để yêu cầu giải quyết vấn đề này theo Luật tố tụng hành chính 2010.

Điều 103. Quyền khởi kiện vụ án hành chính

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.

2. Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.

3. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại.

Điều 104. Thời hiệu khởi kiện

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

b) 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

3. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.

4. Các quy định của Bộ luật dân sự về cách xác định thời hạn, thời hiệu cũng được áp dụng trong tố tụng hành chính.

5. Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định tại Điều này."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Cách chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ba chồng tôi mất năm 2002, có để lại căn nhà và đất diện tích gần 300m2, hiện nay, mẹ chồng tôi đã 78 tuổi và đang đứng tên trên giấy tờ nhà đất. Giấy tờ mẹ chồng tôi đứng tên là (hộ) bà : Mẹ chồng tôi có 3 con gái, 1 con trai và 1 con nuôi hiện đang ở nước ngoài. Vậy nếu phân chia tài sản, sẽ chia như thế nào ?

Mẹ chồng tôi muốn để lại ngôi nhà này cho vợ chồng tôi nhưng các chị gái không đồng ý. Như vậy đúng hay sai. Hay phải chia tài sản ra cho tất cả các anh chị. Và nếu phần của mẹ chồng tôi cho chồng tôi có được hay không ?

Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Như ta biết, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trong trường hợp mà bạn cung cấp, thì căn nhà thuộc quyền sở hữu chung của bố mẹ chồng bạn. Hiện tại thì bố chồng bạn đã mất, thì theo điều 66 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi một bên chết như sau:

Điều 66: giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết:

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế…”.

Qua đó, mảnh đất trên ban đầu sẽ được chia đôi, một nửa khối tài sản chung sẽ được xác định là tài sản riêng của mẹ chồng bạn, mẹ chồng bạn hoàn toàn có quyền định đoạt phần tài sản này. Còn một nửa tài sản chung còn lại thuộc về bố chồng bạn sẽ được chia cho pháp luật đồng thừa kế. Do bố chồng của bạn khi mất không để lại di chúc, vì vậy phần tài sản này sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo điều 651 bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 651: Những người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Do vậy, phần tài sản riêng của bố chồng bán sẽ được chia thành 6 phần chia đều cho mẹ chồng bạn và các con.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Chia di sản thừa kế như thế nào thì đúng pháp luật ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong Luật sư tư vấn gúp tôi: Trong gia đình bà ngoại tôi có 4 người còn (3 nữ và 1 nam). Trước kia ngoại tôi có kêu mẹ tôi về ở phía sau nhà ngoại và hứa cho mẹ tôi miếng đất phía sau lưng nhà ngoại .Và thế là mẹ tôi đã xây nhà lên và tu sửa lại nhà trên ngoại. Lúc ngoại bị ốm thì có đi cắt riêng hộ khẩu cho mẹ tôi đứng tên. Chưa kịp làm giấy tờ đất thì ngoại đã mất.

Vì thế hiện giờ hộ khẩu riêng thì đã có nhưng trên giấy tờ đất thì vẫn là của chung. Lúc đầu mấy chị em có bàn với nhau là để nhà thờ. Nhưng khi về sau 2 người em kế của mẹ đã mắc nợ và đã cưỡng ép mẹ tôi phải đưa giấy tờ đất ra (người ta hay gọi nó là bằng khoán) để đi vay bên ngoài. Mẹ tôi và chị mẹ tôi thì không đồng ý vì sợ tiền mẹ đẻ tiền con rùi mất lun cả nhà lẫn đất. Nên đã bàn lại với nhau là bán hết rùi chia đều nhưng 2 người em của mẹ không đồng ý vì nói là để nhà thờ. Nhưng thật ra thì đó chỉ là cái cớ của họ.Họ muốn bắt mẹ tôi phải tự dọn đi thôi. Khi mẹ và chị mẹ tôi không đồng ý thì họ đã bàn ra kế hoạch là đi cớ mất giấy tờ để họ làm lại rồi cầm lấy đi vay.

Mẹ và chị mẹ cũng đang rất là hoang mang về chuyện này. Không biết họ làm vậy có được không? Bán không được mà chia cũng không xong. Mẹ và chị mẹ tôi giờ cũng đã lớn tuổi rồi nếu chưa giải quyết xong thì lỡ mai này họ có chuyện thì có được chuyển sang đời tôi được quyền tranh chấp với 2 người em của mẹ không? hay là người mất của cũng mất theo?

Xin luật sư tư vấn cho em biết ạ.

Em xin cảm ơn!

Chia di sản thừa kế đúng pháp luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do bà ngoại bạn mất và không để lại di chúc do đó tài sản sẽ được chia theo pháp luật. Theo Điều 685 Bộ luật dân sự 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định như sau:

Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Trong trường hợp này, nếu anh chị em trong gia đình không thỏa thuận được thì có thể bán để chia. Việc hai em của mẹ bạn tự ý cầm cố là vi phạm pháp luật.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Mẹ bạn có thể thực hiện thủ tục khởi kiện chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi có di sản thừa kế. Tại thời điểm bà ngoài của bạn mất đi, chính là thời điểm mở thừa kế, nên sẽ xác định chia theo hàng thừa kế từ thời điểm đó, nên khi mẹ bạn mất đi thì vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất và bạn sẽ là người được thừa hưởng số tài sản này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?