1. Khái niệm

Theo từ điển tiếng Việt: " Thanh tra" ( người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của cơ quan địa phương, cơ quan, xí nghiệp.

Theo quy định của Luật thanh tra 2010 thì: " Thanh tra" ( hay còn gọi là Thanh tra nhà nước) có nghĩa: " là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân."

Từ những cơ sở trên, thanh tra có thể hiểu: : Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhận; thường được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục, luật định, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật".

2. Mục đích của hoạt động thanh tra

Trong quá trình phát triển của xã hội, luôn xuất hiện những việc làm hay, mạnh dạn thể hiện tư duy, cách suy nghĩ, hành động mới phù hợp với chủ trương đổi mới toàn diện của Đảng nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Trong khi đó, các thước đo, chuẩn mực cho các hoạt động là cơ chế, chính sách lại luôn lạc hậu so với thực tiễn không theo kịp sự phát triển của xã hội. Thông qua hoạt động, thanh tra cùng với việc phát hiệu những nhân tố tích cực, khuyến khích, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện cho những nhân tố tích cực, khuyến khích, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện những nhân tố tích cực phát triển. Do vậy, mục đích nghiên cứu của hoạt động thanh tra là bảo đảm pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

3. Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật

Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật là yêu cầu đầu nên và trước hết đối với cán bộ, (thanh tra viên trong hoạt động thanh tra. Chính vì vậy, các cơ quan thanh tra nhà nước và cán bộ, thanh ta viên trong suốt qua trình hoạt động, không những phải tuân theo đúng các quy định của Luật Thanh tra và các văn bản pháp luật khác hướng dẫn thi hành về thẩm quyền, quyền hạn, trình tự, thủ tục... trong tổ chức, chỉ đạo và thực hiện hoạt động thanh tra hanh chính, mà còn phải tuân thủ các quy định của các pháp luật khác có liên quan đến công tác thanh tra, như các văn bản pháp luật có liên quan đến nội dung thanh tra, ..Với vai trò, vị trí “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”, thanh tra là một bộ phận cấu thành công tác lãnh đạo, là một bộ phận hợp thành công tác quan lý nhà nước, nó đóng vai trò như cầu nối giữa cơ quan lãnh đạo, quản lý nơi ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và địa phương, cơ quan, đơn vị, cơ sở. Như vậy, các cơ quan thanh tra nhà nước, cũng như cán bộ, thanh tra viên đóng một vai trò rất quan trọng là thu thập, tổng hợp, nhận xét, xử lý những thông tin trong thanh tra, để phục vụ cơ quan lãnh đạo, quan lý. Nó giúp cho người lãnh đạo, người quan lý các cấp nắm được không những tình hình chấp hành, những ưu điểm, khuyết điểm trong việc thực hiện cơ chế quan lý, các chính sách, pháp luật... Ở địa phương. cơ quan, đơn vị được thanh ra, mà còn cả những sơ hở của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật... hiện hành cùng với những kiến nghị để cơ quan lãnh đạo, chì đạo có những biện pháp khác phục những khuyết điểm của cấp đươi và sơ hở của cơ chế quan lý, chính sách, phap luật... Do đó, những thông tin mà thanh tra cùng cấp cho cơ quan cấp trên, cho người lãnh đạo đòi hỏi phải có độ chính xác, khách quan, trung thực rất cao. Muốn có được những thông tín chính xác, trung thực đó, thái độ cua người cán bộ thanh tra là phải cần thận, xem xét một cách tỉ mỉ, thấu đáo và có sự phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học, không áp đặt theo ý muốn hoặc suy đoán chủ quan của mình.

Hoạt động thanh tra cũng đồng thời bảo đảm yêu cầu công khai, dân chủ. Theo đó, việc thanh tra phải có quyết định thanh tra và được công bố công khai với sự có mặt của đối tượng thanh tra, để đối tượng thanh tra biết trước khi tiến hành thanh tra. Bằng quyết định thanh tra và công bố, giao quyết định đó cho đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra đã thực hiện công khai các nội dung, thời hạn, thời hiệu thanh tra, công khai thành phần Đoàn thanh tra. Trong quá trình thanh tra, yêu cầu dân chủ được bảo đảm bằng việc các quyền của đối tượng và Đoàn thanh tra được tôn trọng thực hiện. Thanh tra có quyền chất vấn, đối tượng thanh tra có quyền chứng mình; thanh tra có quyền nhận xét, đánh giả tình hình và ưu, khuyết điểm của đơn vị được thanh tra, đối tượng thanh tra có quyền giải trình; thanh tra có quyền kết luận thanh tra, đối tượng thanh tra có quyền giải trình hoặc khiếu nại kết luận của Đoàn thanh tra... Đối tượng thanh tra có quyền tố cáo những hành vì mà họ cho là trái pháp luật của Đoàn thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra.

4. Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra

Đây là một trong những điểm mới về nguyên tắc hoạt động thanh tra được bổ sung vào Luật Thanh tra năm 2010, nguyên tắc “không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dụng, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra” thể hiện chủ yếu ở giai đoạn xây đựng kế hoạch thanh tra, thực hiện khảo sát. Nếu trong giai đoạn này phát hiện những nội dung dự kiến thanh tra đã nằm trong kế hoạch hoặc đang được tiến hành thanh tra bởi một cơ quan khác thì nội dung đó sẽ không đưa vào kế hoạch thực hiện thanh tra nữa, nhằm tránh sự chồng chéo, trùng lặp, gây lãng phí về các nguồn lực và hiệu quả công tác thanh tra. Nguyên tắc “không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra "được quy định bởi mục đích hoạt động kiểm tra, thanh tra, nhằm tạo sự bình đẳng giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra, Đoàn thanh tra không được can thiệp vào hoạt động của đối tượng thanh tra, gây phiền hà cho đối tượng thanh tra, tạo sự công khai minh bạch trong quá trình thanh tra, thanh tra phải theo kế hoạch và lịch làm việc đã báo cáo trước cho đơn vị và nó cũng góp phần phát huy nhân tố tích cực, phong ngừa, xử lý các vi phạm, thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

5. Địa vị pháp lý của các cơ quan thanh tra nhà nước

Qua các giai đoạn, các cơ quan thanh tra có thể có tên gọi khác nhau nhưng luôn nằm trong hệ thống các cơ quan hành chính và là thiết chế không thể thiếu trong quan lý nhà nước. Để đáp ứng được yêu cầu của quản lý thì cần bảo đảm hoạt động thanh tra có tính độc lập, chủ động và kịp thời. Hiện nay, địa vị pháp lý của các cơ quan thanh tra trong bộ máy hành chính thì chỉ là các cơ quan chuyên môn, tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan hành chính. Theo đó, Thanh tra quận được xem như là các phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân quận, có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân quận ra quyết định giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực: giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng... Bàn về địa vị pháp lý của cơ quan thanh tra, hiện có nhiều quan điểm cho rằng với địa vị pháp lý như hiện nay thì tổ chức các cơ quan thanh tra thiếu tính hệ thống Cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tác động và có ảnh hưởng rất lớn đối với các cơ quan thanh tra không chỉ ở tổ chức bộ máy, con người mà còn tác động đến nhiều hoạt động cụ thể như việc xây dựng kế hoạch thanh tra, thậm chi cả việc ban hành quyết định thanh tra, tiến hành các cuộc thanh tra, thực hiện kết luận thanh tra... Điều này làm giam tính “độc lập tương đối” của hoạt động thanh tra, làm cho hoạt động thanh tra chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quan lý nhà nước, đặc biệt là yêu cầu kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ, công vụ.

6. Vai trò của cơ quan thanh tra trong kiểm soát quyền lực trong hoạt động hành chính

Vai trò của cơ quan thanh tra trong kiểm soát quyền lực trong hoạt động hành chính thể hiện trên một số nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ quan thanh tra kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong hoạt động hành chính thông qua các hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật.
Thanh tra là một chức năng thiết yếu, quan trọng trong quan lý nhà nước, thực hiện việc xem xét, đánh giá và xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động thanh tra được thực hiện rộng khắp, với phương châm ở đâu có quản lý, ở đó có thanh tra, kiểm tra.
Bên cạnh việc kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong hoạt động hành chính, cơ quan thanh tra còn giúp phát huy những nhân tố tích cực trong quản lý. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện các thiết chế nhà nước, thực hiện và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, cơ quan thanh tra kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong hoạt động hành chính thông qua việc thực hiện chức năng giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
Khiếu nại, tố cáo là quyền và là phương thức để người dân phản ánh, thông tin đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hiện tượng sai phạm, tham nhũng, tiêu cực. Đây là phương thức để người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội, kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong bộ máy nhà nước. Cơ quan thanh tra với tính chất là cơ quan giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp thực hiện công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo và tham mưu, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền. Thông qua hoạt động của mình, cơ quan thanh tra kiểm soát việc việc thực hiện quyền kiểm soát quyền lực trong hoạt động hành chính ở một số phương diện sau:
(1) Qua các thông tin khiếu nại, tố cáo, cơ quan thanh tra xem xét, đánh giá, tổng hợp để thấy được tình hình thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, của các cơ quan nhà nước; nắm bắt được các thông tin về tình hình triển khai thực hiện pháp luật, thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn. Đây chính là các thông tin quan trọng giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát được việc thực thi công vụ của các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý.
(2) Qua xác minh, kết luận những nội dung khiếu nại, tố cáo khi được giao trong giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể, cơ quan thanh tra tiến hành làm rõ, đánh giá đúng, sai trong việc thực hiện các hành vi hành chính, ban hành các quyết định hành chính và thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước đưa ra các kết luận và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý, khắc phục các hiện tượng vi phạm, hoàn thiện cơ chế, chính sách và xử lý những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm. Qua tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị, phản ánh của người dân được xem xét giải quyết, giúp ổn định tình hình xã hội và kiểm soát có hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính và cán bộ, công chức.
Thứ ba, cơ quan thanh tra kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong hoạt động hành chính thông qua thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng theo thẩm quyền.
Phòng, chống tham nhũng được thực hiện bằng nhiều biện pháp, với nhiều cơ quan khác nhau. cơ quan thanh tra với chức năng của mình, tham mưu hoặc tự mình ban hành các văn bản hướng dẫn về phòng, chống tham nhũng, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa như công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; kê khai tài sản, thu nhập;… Bên cạnh đó, cơ quan thanh tra thực hiện phòng, chống tham nhũng thông qua việc giải quyết tố cáo về tham nhũng theo thẩm quyền; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Qua các hoạt động này, cơ quan thanh tra đánh giá được ý thức, trách nhiệm và hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật nói chung và pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói riêng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; phát hiện những tồn tại, hạn chế trong việc tổ chức thực hiện cũng như phát hiện các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong cơ quan quản lý nhà nước. Từ đó có các biện pháp nhằm bảo đảm cho các cơ quan nhà nước thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật, tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước được đúng đắn, khách quan, tránh hiện tượng lạm quyền, lộng quyền, tham nhũng, tiêu cực. Qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác phòng, chống tham nhũng, cơ quan thanh tra nhà nước góp phần kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ của cơ quan quản lý hành chính nhà nước.