Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc đảm bảo mọi cá nhân, không phân biệt quốc tịch, dân tộc hay khả năng ngôn ngữ, đều có thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình là một nguyên tắc nền tảng. Để hiện thực hóa nguyên tắc này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã quy định cụ thể về vai trò, vị trí pháp lý của người phiên dịch và người dịch thuật. Đây không chỉ là những chủ thể hỗ trợ về mặt ngôn ngữ mà còn là nhân tố then chốt bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền bào chữa và quyền tiếp cận công lý một cách công bằng, khách quan.
1. Vì sao trong tố tụng hình sự cần người phiên dịch, người dịch thuật?
Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 thì: “…người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có người phiên dịch”.
Sự hiện diện của người phiên dịch, người dịch thuật trong tố tụng hình sự không phải là một thủ tục mang tính tùy nghi, mà là một yêu cầu bắt buộc xuất phát từ các nguyên tắc hiến định và các quy định cốt lõi của pháp luật tố tụng. Tầm quan trọng của họ được xây dựng trên hai trụ cột pháp lý chính: nguyên tắc về tiếng nói, chữ viết và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa.
Như vậy, cơ quan tiến hành tố tụng suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo (đặc biệt là bị can, bị cáo chưa thành niên) không thành thạo tiếng Việt cần triệu dụng người phiên dịch để phiên dịch cho những người tham gia tố tụng đặc biệt này. Đồng thời, người phiên dịch phải đáp ứng tiêu chuẩn: là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt (Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).
Thực tế rất khó kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Có hội đồng xét xử đã tìm cách thuyết phục người tham gia tố tụng là người dân tộc thiểu số (bị cáo, bị hại…) không yêu cầu có người phiên dịch dù họ không thể trả lời chính xác câu hỏi của hội đồng xét xử, đại diện viện kiểm sát…
Ví dụ cụ thể: Ngày 05/9/2018, Tòa gia đình và người chưa thành niên TP.Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo T.T.S là người chưa thành niên. Do bị cáo và đại diện giám hộ của bị cáo là bà N.T.S kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại có người phiên dịch (bị cáo T.T.S là người dân tộc Khơme, trình độ học vấn 3/12)… Tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thuyết phục bị cáo T.T.S từ chối người phiên dịch và tòa này xử y án sơ thẩm do nội dung kháng cáo không còn nữa.
2. Thế nào là người phiên dịch, người dịch thuật?
Theo Khoản 1 Điều 70 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: "Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt."
Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn, được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch.
Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói cũng được coi là người phiên dịch. Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói biết được chữ, ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc người thân thích có thể được Tòa án chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật đó.
Để khắc phục quy định chưa cụ thể về tiêu chuẩn của người phiên dịch và để việc mời người phiên dịch tham gia tố tụng được thực hiện thông nhất, bảo đảm chất lượng phiên dịch cũng như để phù hợp với trường hợp dịch văn bản, tài liệu tố tụng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ hơn địa vị pháp lý của người phiên dịch và bổ sung thêm người tham gia tố tụng là người dịch thuật. Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.
3. Quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, người dịch thuật
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người phiên dịch mà không quy định về quyền của họ. Trên cơ sở kế thừa quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người phiên dịch nhằm bảo đảm thuận lợi cho hoạt động tố tụng hình sự, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phiên dịch, người dịch thuật, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã được bổ sung quy định về quyền của họ.
Để đảm bảo người phiên dịch có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách độc lập và khách quan, Khoản 2 Điều 70 BLTTHS 2015 đã quy định các quyền cụ thể sau :
- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ: Cơ quan yêu cầu có trách nhiệm phổ biến đầy đủ các quy định pháp luật liên quan để họ hiểu rõ vai trò của mình.
- Đề nghị được bảo vệ: Có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản cho bản thân và người thân thích khi bị đe dọa. Quy định này thừa nhận rằng người phiên dịch có thể gặp rủi ro do tính chất công việc của họ, đặc biệt trong các vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng.
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng: Nếu cho rằng một quyết định hoặc hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là trái pháp luật và ảnh hưởng đến việc phiên dịch, họ có quyền khiếu nại.
- Được chi trả thù lao và các chế độ khác: Công sức và thời gian họ bỏ ra phải được chi trả thù lao và các chi phí hợp lý khác theo quy định của pháp luật.
Song song với các quyền, người phiên dịch phải tuân thủ các nghĩa vụ nghiêm ngặt được quy định tại Khoản 3 Điều 70 BLTTHS 2015 để đảm bảo tính đúng đắn của hoạt động tố tụng :
- Có mặt theo giấy triệu tập: Phải chấp hành yêu cầu triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
- Phiên dịch trung thực: Đây là nghĩa vụ quan trọng nhất. Mọi hành vi cố ý phiên dịch sai sự thật, thêm bớt, xuyên tạc đều bị nghiêm cấm. Vi phạm nghĩa vụ này có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự.
- Giữ bí mật điều tra: Không được tiết lộ những thông tin bí mật mà họ biết được trong quá trình tham gia vụ án.
- Cam đoan về việc thực hiện nghĩa vụ: Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc sẽ thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của mình.
4. Thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật
Quyền đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật được trao cho những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trực tiếp liên quan đến tính chính xác của việc chuyển ngữ quy định tại khoản 4 Điều 70 BLTTHS 2015. Dựa trên các quy định chung về quyền của người tham gia tố tụng, những người sau đây có quyền này:
- Người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) và người đại diện của họ.
- Bị hại, đương sự và người đại diện của họ.
- Người bào chữa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
Quyền yêu cầu thay đổi này là một cơ chế kiểm soát quan trọng, cho phép các bên trong vụ án chủ động bảo vệ quyền lợi của mình khi có nghi ngờ về sự công tâm hoặc năng lực của người phiên dịch, người dịch thuật.
Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong những trường hợp: đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do cơ quan yêu cầu phiên dịch, dịch thuật quyết định. Những quy định này cũng được áp dụng đối với người biết cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù.
Kết luận
Người phiên dịch, người dịch thuật giữ vai trò không thể thiếu trong quá trình tố tụng hình sự, đặc biệt trong các vụ án có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến nhiều ngôn ngữ khác nhau. Quyền và nghĩa vụ của họ, được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Hình sự mới nhất, không chỉ đảm bảo tính chính xác, minh bạch của quá trình hỏi cung, xét hỏi, xét xử mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng. Người phiên dịch và người dịch thuật thực hiện vai trò trung gian, truyền tải đầy đủ và trung thực nội dung thủ tục, tài liệu, chứng cứ, từ đó góp phần làm sáng tỏ vụ án và tăng cường hiệu quả của hoạt động tư pháp.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!