1. Bổ sung danh mục hạn chế về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Điểm mới nổi bật trong Nghị định 31/2021/NĐ-CP so với các quy định trước đây là việc công bố và ban hành danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Các quy định cụ thể như sau:

  • Nhà đầu tư nước ngoài không được phép đầu tư trong 25 ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường, theo quy định tại Mục A Phụ lục I được ban hành kèm theo Nghị định này. Đây là những ngành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ do nhà nước quy định độc quyền trong lĩnh vực thương mại, v.v.
  • Danh mục ngành, nghề tiếp cận thị trường đòi hỏi điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm tổng cộng 59 đầu mục. Nếu nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào các ngành, nghề không nằm trong 84 ngành được quy định (bao gồm cả ngành, nghề đòi hỏi điều kiện tiếp cận thị trường và ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường như đã nêu ở điểm a), họ sẽ phải tuân thủ các điều kiện tiếp cận thị trường tương tự như nhà đầu tư trong nước.

 

2. Bổ sung đối tương thuộc ngành nghề ưu đãi đầu tư

Nghị định 31/2021/ND-CP đã điều chỉnh và bổ sung một số đối tượng thuộc danh sách nghề ưu đãi đầu tư. Dưới đây là những đối tượng mới được bổ sung:

  • Đầu tư vào nghiên cứu và sản xuất sản phẩm công nghệ sinh học được sử dụng trong ngành thực phẩm.
  • Sản xuất các sản phẩm đồ gỗ, bao gồm sản xuất ván nhân tạo như ván dán, ván ghép thanh, ván MDF.
  • Đầu tư vào phát triển, vận hành, quản lý cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các cụm công nghiệp.
  • Đầu tư vào cơ sở hỗ trợ phòng chống bạo lực dựa trên giới tính tại cộng đồng đối với người bán dâm.
  • Tận dụng nhiệt thừa khí thải từ các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng để sản xuất điện, nhằm tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Hiện tại, theo quy định mới, số lượng ngành nghề thuộc danh sách ưu đãi đầu tư bao gồm:

  • Khoa học công nghệ, điện tử, cơ khí, sản xuất vật liệu, công nghệ thông tin (tổng cộng 20 ngành, nghề).
  • Nông nghiệp (tổng cộng 11 ngành, nghề).
  • Bảo vệ môi trường, xây dựng kết cấu hạ tầng (tổng cộng 23 ngành, nghề).
  • Giáo dục, văn hóa, xã hội, thể thao, y tế (tổng cộng 09 ngành, nghề).
  • Các ngành, nghề khác (tổng cộng 04 ngành, nghề).

 

3. Thay đổi và hợp nhất danh mục các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn

Nghị định 31 đã đưa ra một danh mục cụ thể liệt kê các địa bàn được ưu đãi đầu tư. Điều này áp dụng cho các địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, theo quy định được thể hiện tại Phụ lục III được ban hành kèm theo Nghị định.

Danh mục này cung cấp một tập hợp rõ ràng các địa bàn được xem là khó khăn từ mặt kinh tế và xã hội, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và ưu đãi cho các hoạt động đầu tư tại những vùng này. Việc đưa ra danh mục giúp xác định và định hình rõ hơn những địa bàn có điều kiện đặc biệt cần được hỗ trợ phát triển.

Tất cả các điều khoản và quy định liên quan đến danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư đã được đăng ký và công bố một cách chính thức trong Nghị định 31, bao gồm cả Phụ lục III, nhằm đảm bảo tính pháp lý và sự minh bạch trong việc áp dụng chính sách ưu đãi này.

 

4. Bổ sung điều kiện đối với đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư

Theo quy định tại Điểm c khoản 4 Điều 19 của Nghị định 31/2021/NĐ-CP, dự án đầu tư sử dụng lao động khuyết tật chỉ được hưởng ưu đãi đầu tư khi tỷ lệ lao động khuyết tật tối thiểu là 30% so với tổng số lao động thường xuyên bình quân hàng năm.

Đối với Chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa, để được hưởng ưu đãi đầu tư, cần đáp ứng các điều kiện sau:

  • Tối thiểu 80% doanh nghiệp tham gia trong chuỗi phân phối là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Có ít nhất 10 địa điểm phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng.
  • Tối thiểu 50% doanh thu của chuỗi phân phối được tạo ra bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia trong chuỗi.

Những quy định này nhằm tạo điều kiện và ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc phát triển chuỗi phân phối sản phẩm. Chúng được thể hiện và quy định một cách rõ ràng trong Nghị định 31, để đảm bảo tính pháp lý và sự minh bạch trong việc áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp này.

 

5. Quy định về thời gian ngừng dự án đầu tư

Điều 56 của Nghị định 31/2021/NĐ-CP đã đề ra quy định về thời gian ngừng hoạt động của dự án đầu tư. Theo đó, tổng thời gian ngừng hoạt động của dự án không được vượt quá 12 tháng. Trong trường hợp vượt quá thời hạn này tính từ ngày ngừng hoạt động, cơ quan đăng ký đầu tư có quyền chấm dứt hoặc chấm dứt một phần hoạt động của dự án đầu tư đó.

Đối với trường hợp ngừng hoạt động của dự án đầu tư do bản án, quyết định của tòa án, phán quyết trọng tài có hiệu lực hoặc theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, thời gian ngừng hoạt động của dự án đầu tư sẽ được xác định dựa trên nội dung của bản án, quyết định của tòa án, phán quyết trọng tài hoặc theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư.

 

6. Bổ sung thêm trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư

Nghị định số 31 đã điều chỉnh và mở rộng các trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, bằng cách xác định những tình huống sau đây:

  • Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư xảy ra khi nhà đầu tư thực hiện các hoạt động đầu tư bằng cách sử dụng các giao dịch dân sự giả tạo, vi phạm quy định của pháp luật về dân sự.
  • Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư được thực hiện dựa trên bản án, quyết định của Tòa án hoặc phán quyết của trọng tài.

 

7. Sửa đổi 08 Nghị định liên quan đầu tư kinh doanh

Nghị định 31/2021/NĐ-CP đã thực hiện việc sửa đổi và bổ sung 08 Nghị định liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh. Các Nghị định này bao gồm:

  • Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất và thu tiền thuê mặt nước.
  • Nghị định 52/2020/NĐ-CP về đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn.
  • Nghị định 25/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu về việc lựa chọn nhà thầu.
  • Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định điều kiện về an ninh và trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
  • Nghị định 82/2018/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
  • Nghị định 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị.
  • Nghị định 99/2003/NĐ-CP ban hành quy chế về khu công nghệ cao.
  • Nghị định 94/2020/NĐ-CP quy định cơ chế và chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.

Việc sửa đổi và bổ sung các Nghị định này nhằm điều chỉnh và cập nhật các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh, nhằm tạo điều kiện và ưu đãi hơn cho các nhà đầu tư. Mục tiêu là đảm bảo tính pháp lý và tạo môi trường đầu tư thuận lợi, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội.

Chúng tôi xin gửi đến quý độc giả toàn bộ thông tin về " Những điểm mới nổi bật tại Nghị định 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư", nhằm mang đến cho quý vị những kiến thức chi tiết và sự hiểu rõ hơn về vấn đề này. Chúng tôi rất mong muốn đáp ứng mọi thắc mắc và nhu cầu của quý vị trong quá trình tìm hiểu. Nếu quý vị có bất kỳ câu hỏi nào hoặc cần sử dụng dịch vụ của chúng tôi, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi. Chúng tôi cam kết đảm bảo tính pháp lý và sẵn sàng hỗ trợ quý vị trong mọi vấn đề liên quan.

Công ty Luật Minh Khuê, một tổ chức chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, xin gửi đến quý khách hàng những thông tin hữu ích nhằm đáp ứng nhu cầu tư vấn pháp lý của quý vị. Chúng tôi hiểu rằng có thể quý khách đang đối diện với các vấn đề pháp lý phức tạp hoặc có những câu hỏi chưa được giải đáp. Để được tư vấn và hỗ trợ, quý khách vui lòng liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 19006162. Ngoài ra, quý khách cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để chúng tôi giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng và cam kết tuân thủ đúng quy định pháp luật.