- 1. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là gì ?
- 2. Điều kiện chung đối với thiết kế bố trí được bảo hộ là như thế nào ?
- 3. Tính nguyên gốc của thiết kế bố trí là như thế nào ?
- 4. Tính mới thương mại của thiết kế bố trí là như thế nào ?
- 5. Quyền đăng ký thiết kế bố trí là như thế nào ?
- 6. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí là như thế nào?
- 6.1 Yêu cầu đối với đơn đăng ký thiết kế bố trí
- 6.2 Công bố đơn đăng ký thiết kế bố trí
- 6.3 Hiệu lực của văn bằng bảo hộ
- 6.4 Sử dụng thiết kế bố trí là việc thực hiện các hành vi sau đây
- 6.5 Quyền tạm thời đối với thiết kế bố trí
- 6.6 Hành vi xâm phạm quyền đối với thiết kế bố trí
- 7. Thủ tục đăng ký thiết kế bố trí là như thế nào ?
- 8. Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đổi với thiết kế bố trí mạch tích hợp năm 1989
Trả lời:
1. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là gì ?
2. Điều kiện chung đối với thiết kế bố trí được bảo hộ là như thế nào ?
3. Tính nguyên gốc của thiết kế bố trí là như thế nào ?
4. Tính mới thương mại của thiết kế bố trí là như thế nào ?
5. Quyền đăng ký thiết kế bố trí là như thế nào ?
6. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí là như thế nào?
6.1 Yêu cầu đối với đơn đăng ký thiết kế bố trí
6.2 Công bố đơn đăng ký thiết kế bố trí
6.3 Hiệu lực của văn bằng bảo hộ
6.4 Sử dụng thiết kế bố trí là việc thực hiện các hành vi sau đây
6.5 Quyền tạm thời đối với thiết kế bố trí
6.6 Hành vi xâm phạm quyền đối với thiết kế bố trí
7. Thủ tục đăng ký thiết kế bố trí là như thế nào ?
8. Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đổi với thiết kế bố trí mạch tích hợp năm 1989
Thiết kế bố trí mạch tích hợp là một trong các đối tượng mới của quyền sở hữu công nghiệp, sự ra đời của đối tượng này gắn liền với sự phát triển của công nghệ vi mạch. Nằm trong nhóm các điều ước quốc tế chuyên biệt, Hiệp ước Washington (Treaty on intellectual property in respect of integrated circuits - IPIC) về sở hữu trí tuệ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp (Hiệp ước IPIC 1989) là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên quy định về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp. Trước đó, trong Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp thì đối tượng này chưa được liệt kê là các đối tượng của sở hữu công nghiệp. Hiệp ước IPIC khi ra đời vào năm 1989 chưa thu hút được sự ủng hộ của nhiều quốc gia (chỉ có 8 quốc gia tham gia). Hiệp định TRIPs ra đời và có hiệu lực, các nội dung cơ bản của Hiệp ước IPIC được áp dụng rất rộng rãi tại các quốc gia là thành viên của WTO thông qua việc dẫn chiếu từ Hiệp định TRIPs.
* Đối tượng được bảo hộ
Mặc dù có tên là “Hiệp ước về sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp” (Treaty on intellectual property in respect of integrated circuits) nhưng trong phần quy định về đối tượng điều chỉnh của Hiệp ước thì đối tượng được bảo hộ lại là thiết kế bố trí (layout - design hay topography).
Mục i Điều 2 Hiệp ước đã giải thích về mạch tích hợp như sau:
“Mạch tích hợp là một sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bản thành phẩm, trong đó, các phần tử, với ít nhất một phần tử tích cực và một sổ hoặc tất cả các mối nối được gắn liền trong và/ hoặc trên một miếng vật liệu nhằm thực hiện một chức năng điện tử" (theo Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp, mục (i) Điều 2).
Theo mục ii Điều 2 Hiệp ước, thiết kế bố trí mạch tích hợp được định nghĩa: là sự sắp xếp trong không gian ba chiều thể hiện dưới bảo hộ thiết kế bố trí, hoặc bằng các quy định về quyền tác giả, sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh, hoặc bằng bất cứ luật nào, hoặc dưới hình thức kết hợp giữa các luật đó.
Việc xác lập quyền của chủ sở hữu thiết kế bố trí được nêu tại Điều 7 Hiệp ước IPIC và được thừa nhận tại Điều 35 Hiệp định TRIPs, theo đó các quốc gia thành viên có thể lựa chọn một trong hai cách thức sau để xác lập quyền của chủ sở hữu đối với thiết kế bố trí:
- Xác lập thông qua việc yêu cầu khai thác thương mại: Khoản 1 Điều 7 Hiệp ước IPIC quy định:
“Bất cứ thành viên nào cũng được tự do không bảo hộ một thiết kế bổ trí cho tới khi thiết kế bố trí đó được khai thác thương mại theo cách thông thường một cách riêng rẽ hoặc được thế hiện trong một mạch tích hợp ở bất cứ nơi nào trên thể giới".
Như vậy khi thiết kế bố trí ra đời, người tạo ra thiết kế bố trí cần phải đưa thiết kế bố trí vào khai thác thưong mại, lúc đó quyền sở hữu trí tuệ đối với thiết kế bố trí mới được phát sinh. Việc yêu cầu chủ sở hữu thiết kế bố trí phải đưa đối tượng ra khai thác thương mạỉ nhằm giúp các cơ quan có thẩm quyền vừa đánh giá được tính nguyên gốc, vừa đánh giá được giá trị thương mại của thiết kế bố trí. Hơn thế, việc đưa ra khai thác thương mại cũng là một hình thức công bố công khai công nghệ mới, góp phần đẩy mạnh, nhanh sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực này.
- Xác lập quyền thông qua yêu cầu đăng ký bảo hộ, bộc lộ thiết kế bố trí: Theo khoản 2 Điều 7 Hiệp ước IPIC, các quốc gia là thành viên của Hiệp ước có quyền “tự- do không bảo hộ một thiết kế bố trí cho tới khi thiết kế bố trí đó trở thành đổi tượng của một đơn đăng ký nộp hợp lệ cho cơ quan có thẩm quyền hoặc là đổi tượng được đăng ký tại cơ quan đó. Cũng như việc khai thác thương mại, quy định này không mang tính chất bắt buộc mà chỉ mang tính chất khuyến nghị để các quốc gia thành viên trong quá trình xây dựng và sửa đổi pháp luật có thể áp dụng.
Quan trọng nhất của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sáng chế. Trên cơ sở Hiệp ước các nước thành viên đã thành lập nên “Hiệp hội quốc tế” để hợp tác trong việc nộp đơn, nghiên cứu và xét nghiệm đơn xin bảo hộ sáng chế.
Hiệp ước PCT bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24/1/1978. Hiệp ước đã được sửa đổi vào năm 1979, năm 1984. Cho đến ngày 31/8/2011, Hiệp ước đã có 146 quốc gia tham gia, Việt Nam tham gia Hiệp ước vào năm 1993.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Hiệp ước, đơn xin bảo hộ sáng chế ở bất kì nước thành viên nào của Hiệp ước được gọi là “đơn quốc tế”. “Đơn quốc tế” được nộp cho cơ quan có thẩm quyền của nước thành viên (cơ quan nhận đơn). Sau đó, bản sao của “đơn quốc tế” được giữ ở cơ quan nhận đơn (bản sở tại) một bản được gửi cho Văn phòng quốc tế của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (bản hồ sơ) và một bản được gửi cho cơ quan tra cứu quốc tế có thẩm quyền (bản tra cứu). Mỗi một “đơn quốc tế” đều được tiến hành tra cứu quốc tế. Mục đích của việc tra cứu quốc tế là tìm ra tình trạng liên quan đã biết. Việc tra cứu quốc tế được tiến hành trên cơ sở yêu cầu bảo hộ có sự xem xét thích đáng bản mô tả sáng chế và các bản vẽ nếu có” (khoản 1,2,3 Điều 15).
Ngoài ra, theo yêu cầu của người nộp đơn, đơn quốc tế sẽ được tiến hành xét nghiệm sơ bộ quốc tế. Mục đích của việc xét nghiệm sơ bộ quốc tế là đưa ra kết luận sơ bộ về vấn đề sáng chế yêu cầu bảo hộ có tính mới, có trình độ sáng tạo (không hiển nhiên) và có khả năng áp dụng công nghiệp hay không? Khi xét nghiệm sơ bộ quốc tế phải xem tất cả các tài liệu đã được nêu trong báo cáo tra cứu quốc tế (Điều 34).
Báo cáo tra cứu quốc tế và báo cáo xét nghiệm sơ bộ quốc tế, sẽ được Văn phòng quốc tế gửi tới cho từng nước thành viên được chỉ định và được chọn theo yêu cầu của “đơn quốc tế” (Điều 20; 36).
Trên cơ sở kết luận của báo cáo tra cứu và báo cáo xét nghiệm sơ bộ quyền sở hữu công nghiệp. Có thể tóm tắt việc đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu trong hai điều ước quốc tế trên theo quy trình sau:
+ Nộp đơn đăng ký quốc tế
Việc bảo hộ quốc tế đối với nhãn hiệu hàng hoá xuất phát từ yêu cầu bảo hộ của chủ nhãn hiệu hàng hoá thông qua việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ, đơn này được gọi là “đơn đăng ký quốc tế” (đơn quốc tế). Đơn đăng ký quốc tế được nộp bởi một thể nhân hoặc một pháp nhân có cơ sở kinh doanh hoặc cư trú tại hoặc là công dân của một nước tham gia Thoả ước hay Nghị định thư, hoặc một thể nhân hay pháp nhân có cơ sở kinh doanh tại hoặc cư trú tại lãnh thổ của một Tổ chức liên chính phủ là thành viên của Nghị định thư hoặc là công dân của một nước thành viên của tổ chức đó.
Có ba loại đơn đăng ký quốc tế:
- Đơn quốc tế chịu sự điều chỉnh của Thoả ước.
- Đơn quốc tế chịu sự điều chỉnh của Nghị định thư.
- Đơn quốc tế chịu điều chỉnh của Thoả ước và Nghị định thư.
Trong đơn quốc tế phải chỉ định một hoặc nhiều nước nơi nhãn hiệu cần được bảo hộ. Nước được chỉ định trong đơn và nước xuất xứ phải đều là thành viên của Thoả ước và Nghị định thư.
Đơn quốc tế được nộp đến Văn phòng quốc tế của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (Văn phòng quốc tế) thông qua cơ quan trung gian là cơ quan có thẩm quyền của nước xuất xứ (nước nhận đơn được gọi là “nước xuất xứ” của đơn). Kèm theo đơn là các khoản lệ phí, bao gồm lệ phí đăng ký đơn, lệ phí quốc gia. Sau khi nhận đơn, Văn phòng quốc tế sẽ thông báo với tất cả các nước thành viên và tiến hành đăng bạ quốc tế nhãn hiệu hàng hoá.
+ Hiệu lực của đăng ký quốc tế
Hiệu lực của đăng ký quốc tế phụ thuộc vào đơn quốc tế được nộp theo Thoả ước hay theo Nghị định thư (cụ thể là Điều 6 của Công ước Paris):
Bất cứ sự từ chối nào đều phải được cơ quan có thẩm quyền của nước đó thông báo cho Văn phòng quốc tế trong thời hạn muộn nhất là trước khi hết thời hạn một năm (theo quy định của Thoả ước) hoặc là 18 tháng (theo quy định của Nghị định thư) kể từ ngày đơn quốc tế được nộp cho Văn phòng quốc tế.
Rất mong nhận được sự hợp tác cùng phát triển!
Trân trọng./.
Bộ phận Dịch vụ Sở hữu trí tuệ - Công ty Luật Minh Khuê