1. Điều kiện về chủ thể

a. Về phía người lao động

Đối với NLĐ là công dân Việt Nam, Điều 3 Khoản 1 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

“NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ, làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ.”

Qua đó ta có thể thấy rằng NLĐ phải là cá nhân công dân Việt Nam, từ đủ 15 tuổi trở lên, có năng lực pháp luật lao động, năng lực hành vi lao động và khi giao kết phải có khả năng lao động. Ngoài ra, pháp luật còn quy định trường hợp sử dụng NLĐ dưới 15 tuổi để làm những công việc mà pháp luật cho phép với điều kiện: Có HĐLĐ bằng văn bản và phải được ký kết với người đại diện theo pháp luật và được sự đồng ý của NLĐ dưới 15 tuổi. Không được sử dụng lao động nữ, lao động tàn tật, lao động cao tuổi… làm những công việc mà pháp luật cấm.

Đối với cá nhân là người nước ngoài, theo quy định tại Điều 169 BLLĐ về điều kiện của lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam thì: Phải đủ 18 tuổi, có sức khỏe, trình độ chuyên môn tay nghề phù hợp với yêu cầu công việc, lý lịch tư pháp trong sạch, có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Đối với NLĐ thì nhìn chung việc giao kết HĐLĐ là mang tính trực tiếp, không được ủy quyền trừ trường hợp đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm NLĐ có thể ủy quyền cho một NLĐ trong nhóm để giao kết HĐLĐ bằng văn bản.

b. Người sử dụng lao động

Điều 3 khoản 2 BLLĐ có quy định:

“NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ, nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”.

Như vậy ta thấy được NSDLĐ có thể là: Cơ quan, tổ chức có thể là của Việt Nam, nước ngoài tại Việt Nam và phải có tư cách pháp nhân; Doanh nghiệp, hộ gia đình, hợp tác xã, cá nhân: phải được phép kinh doanh, có giấy phép đăng ký kinh doanh; với trường hợp là cá nhân thì phải đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, và phải có khả năng trả công cho NLĐ. Những đối tượng trong các đơn vị sử dụng lao động có quyền ký kết HĐLĐ là: Đối với doanh nghiệp thì đó là giám đốc hoặc tổng giám đốc; Chủ nhiệm hợp tác xã đối với hợp tác xã; giám đốc liên hiệp hợp tác xã đối với liên hiệp hợp tác xã; Chủ hộ đối với hộ gia đình; người đứng đầu của các cơ quan, tổ chức Việt Nam, nước ngoài, quốc tế tại Việt Nam. Đối với NSDLĐ thì họ có thể ủy quyền cho người khác kí kết HĐLĐ, trừ trường hợp NSDLĐ là cá nhân.

2. Điều kiện về loại và hình thức của HĐLĐ

>> Xem thêm:  Điều kiện được đặc cách xét vào biên chế của viên chức?

Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, tùy thuộc tính chất công việc và thời hạn kết thúc của mỗi công việc mà các bên phải ký kết HĐLĐ theo một trong các loại: HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới mười hai tháng (Điều 22 Khoản 1 BLLĐ).

-HĐLĐ không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng.

-HĐLĐ xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng.

-HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.

Việc ký kết HĐLĐ ngoài việc tuân thủ các quy định pháp luật về loại hợp đồng còn phải tuần theo các quy định về hình thức hợp đồng. Điều 16 BLLĐ quy định:

 “1. HĐLĐ phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, NLĐ giữ 01 bản, NSDLĐ giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết HĐLĐ bằng lời nói”.

Như vậy, HĐLĐ có thể được giao kết dưới hai hình thức văn bản và lời nói. Cụ thể: HĐLĐ bằng văn bản là một hình thức HĐLĐ trong đó các điều khoản thỏa thuận được ghi vào văn bản có chữ ký của hai bên. HĐLĐ bằng văn bản có thể được áp dụng cho mọi HĐLĐ. Tuy nhiên, trong những trường hợp sau HĐLĐ nhất thiết phải được kí kết bằng văn bản: HĐLĐ không xác định thời hạn; HĐLĐ xác định thời hạn từ ba tháng trở lên; NLĐ được thuê làm giám đốc doanh nghiệp nhà nước; HĐLĐ đối với người giúp việc gia đình; HĐLĐ làm vệc với tư cách là vũ nữ, tiếp viên, nhân viên trong các cơ sở dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, sàn nhảy,.. không phân biệt thời hạn thực hiện HĐLĐ (Nghị định 87/CP ngày 12/12/1995)

HĐLĐ bằng lời nói là một hình thức HĐLĐ mà các bên thỏa thuận thông qua sự đàm phán thương lượng bằng ngôn ngữ mà không lập thành văn bản, quá trình giao kết có thể có hoặc không có người làm chứng tùy theo yêu cầu của các bên. Khi giao kết bằng lời nói các bên đương nhiên phải tuân thủ pháp luật về giao kết HĐLĐ. HĐLĐ bằng lời nói được áp dụng cho các công việc có tính chất tạm thời dưới 3 tháng.

Ngoài ra, còn có HĐLĐ bằng hành vi thể hiện thông qua hành vi của các chủ thể khi tham gia quan hệ như hành vi làm việc của NLĐ, hành vi bố trí công việc, trả lương của NSDLĐ…

3. Điều kiện về nội dung của HĐLĐ

Nội dung của HĐLĐ là toàn bộ những vấn đề được phản ánh trong HĐLĐ nhằm tạo lập nên giá trị pháp lý của bản HĐLĐ. Theo quy định tại Điều 23 BLLĐ thì HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu thiết lập trên quan hệ lao động như: Tên và địa chỉ NSDLĐ hoặc của người đại diện hợp pháp; Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của NLĐ; Công việc và địa điểm làm việc; Thời hạn của HĐLĐ; Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác; Chế độ nâng bậc, nâng lương; Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Trang bị bảo hộ lao động cho NLĐ; Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Ngoài các nội dung chủ yếu, trong HĐLĐ các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội và thỏa ước lao động tập thể (nếu có).

>> Xem thêm:  Người lao động xin nghỉ việc có phải bồi thường chi phí đào tạo cho công ty không ?

4. Điều kiện về nguyên tắc ký kết

Để bảo vệ quyền của các bên tham gia ký kết- nhất là đối với NLĐ, đảm bảo hiệu quả của việc thực hiện HĐLĐ, nhằm chắc chắn rằng HĐLĐ thực sự là ý chí của các bên, pháp luật lao động quy định những nguyên tắc bắt buộc các bên phải tuân thủ. Theo đó, Điều 17 BLLĐ quy định về nguyên tắc giao kết HĐLĐ:

“1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

2. Tự do giao kết HĐLĐ nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.

Vì vậy những cam kết trong HĐLĐ là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên khi đảm bảo các nguyên tắc giao kết HĐLĐ. Cụ thể:

Nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc tự do tự nguyện khi giao kết hợp đồng. Để đảm bảo sự tự do, tự nguyện khi giao kết HĐLĐ, các bên không được dùng các thủ đoạn lừa dối, ép buộc hay đe dọa nhằm buộc người kia vì lo sợ mà phải giao kết hợp đồng mặc dù họ không mong muốn. NLĐ có quyền giao kết HĐLĐ với bất kì NSDLĐ nào và NSDLĐ cũng có quyền tự do thiết lập quan hệ lao động với bất kì NLĐ nào theo nhu cầu nếu không trái pháp luật.

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trong việc thỏa thuận, tiến hành giao kết HĐLĐ. Các chủ thể trong HĐLĐ bình đẳng với nhau về tư cách pháp lý của chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ ngang nhau, xuất phát từ ý chí của các bên chứ không phải của ai khác.

Thứ ba, là không được trái với pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội. Thỏa ước lao động tập thể có thể có trước hoặc có sau khi ký kết HĐLĐ tùy từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên khi ký kết HĐLĐ mà tồn tại thỏa ước thì các bên phải triệt để tuân theo các quy định của thỏa ước..

Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật Minh Khuê về “Điều kiện để hợp đồng lao động có hiệu lực pháp luật?”. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác anh/chị vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người lao động phải bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?

>> Xem thêm:  Tư vấn việc trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ chấm dứt HĐLĐ ?