Điều kiện cụ thể để được bồi thường thiệt hại về đất chính là người sử dụng đất phải có các giấy tờ hợp pháp, hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03.12.2004 về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất.

Quyền sở hữu hợp pháp nhà ở, công trình hoặc quản lí hợp pháp tài sản trên đất chính là điều kiện để được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Luật Minh Khuê phân tích một số trường hợp bồi thường cụ thể:

 

1. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lí, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác.

Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường (Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015).

 

2. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Lí thuyết về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay vẫn có quan điểm cho rằng hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể có ở dạng hành vi không hành động. Dựa trên quan điểm này, nhiều người cho rằng nếu cây cối đổ, gẫy gây thiệt hại thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường - hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu là hành vi thể hiện dưới dạng “không hành động” (bất tác vi). Điều 604 Bộ luật dân sự quy định:

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại mới nhất năm 2022

“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lí phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra”.

Theo quy định này, chủ sở hữu cây cối phải có ý thức ttong việc đảm bảo sự an toàn của cây cối (phát cành; nếu cây cối có nguy cơ đổ, gẫy thì phải chặt, đốn...). Nếu cây cối đổ, gẫy gây thiệt hại thì mặc nhiên chủ sở hữu bị coi là có lỗi.

 

3. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, việc suy đoán lỗi được áp dụng trong nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra, trong đó có trường hợp bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Súc vật là thú giữ được thuần hoá, chúng hoạt động theo bản năng, con người phải kiểm soát hoạt động của chúng. Do đó, nếu súc vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại - chủ sở hữu súc vật “bị coi” là có lỗi trong việc quản lí súc vật. Điều 603 Bộ luật dân sự quy định: “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác”. Chủ sở hữu súc vật phải luôn luôn có ý thức ưộng coi súc vật để tránh tình trạng súc vật gây thiệt hại cho người khác.

Trên thực tế có những trường hợp thiệt hại do súc vật gây ra là hậu quả bởi hành vi trái pháp luật của người thứ ba (không phải là chủ sở hữu súc vật, không phải là người bị thiệt hại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định cho người có hành vi làm cho súc vật gây thiệt hại. Hành vi làm cho súc vật gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật dẫn đến thiệt hại xảy ra. Khoản 2 Điều 603 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khấc thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”.

Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường. Ví dụ: Một người ăn trộm trâu bò của người khác, trong khi dắt trâu bò, trâu bò gây thiệt hại thì người này phải bồi thường.

Hiện nay, có nhiều nơi đồng bào thả rông súc vật và do đó không tránh khỏi trường hợp súc vật bị thả rông gây thiệt hại. Xuất phát từ lí do này mà Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội’' (khoản 4 Điều 603 Bộ luật dân sự).

 

4. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả

>> Xem thêm:  Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là gì ? Khái niệm về bồi thường thiệt hại

Theo khái niệm chung, mồ mả là nơi chôn cất người chết. Việc chôn cất được thực hiện theo phong tục tập quán. Mỗi địa phương có cách thức xây mồ mả, hoặc cất giữ hài cốt của người chết khác nhau, cho nên chi phí cũng khác nhau. Vì vậy, khi có hành vi vi phạm cần phải tính đến các yếu tố tập quán.

Trên thực tế không ít trường hợp gây thiệt hại về mồ mả cho người khác nhưng thiếu cơ sở pháp lí để buộc người gây thiệt hại bồi thường thiệt hại. Bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm mồ mả được đề cập tại Điều 607 Bộ luật dân sự .

Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến mồ mả của người khác phải bồị thường thiệt hại. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lí để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

Ngoài những khoản thiệt hại về vật chất, người gây thiệt hại phải bồi’thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

5 :Đặc điểm của trách nhiệm BTTH

 

– Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.

– Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.

– Về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.

– Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai? Nhà trường hay gia đình.

 

6 Bồi thường thiệt hại về Nhà ở, công trình xây dựng khi Nhà nước thu hồi đất

 

Luật 45/2013/QH13 - Đất đai: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:
Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.

3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

 

 

>> Xem thêm:  Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì ? Quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

 

 

Nghị định 47/2014/NĐ-CP - Quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:

Điều 9. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất

Việc bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Khoản 2 Điều 89 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó.

Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng (=) tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành.

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.

2. Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:

 

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

Trong đó:

Tgt: Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại;

G1: Giá trị xây mới nhà, công trình bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành;

T: Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt hại;

T1: Thời gian mà nhà, công trình bị thiệt hại đã qua sử dụng.

3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không còn sử dụng được thì bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, những vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.

4. Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành ban hành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

 

 

 

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông mới nhất

Nghị định 47/2014/NĐ-CP - Quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:
Điều 14. Bồi thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước

1. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp; mức bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

2. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà ở tại nơi tái định cư; giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của Chính phủ về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới; mức hỗ trợ bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị nhà đang thuê.

 

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về bồi thường thiệt hại cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê