Điều kiện cụ thể để được bồi thường thiệt hại về đất chính là người sử dụng đất phải có các giấy tờ hợp pháp, hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03.12.2004 về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất.

Quyền sở hữu hợp pháp nhà ở, công trình hoặc quản lí hợp pháp tài sản trên đất chính là điều kiện để được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Luật Minh Khuê phân tích một số trường hợp bồi thường cụ thể:

1. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lí, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác.

Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường (Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015).

2. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra

Lí thuyết về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay vẫn có quan điểm cho rằng hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể có ở dạng hành vi không hành động. Dựa trên quan điểm này, nhiều người cho rằng nếu cây cối đổ, gẫy gây thiệt hại thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường - hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu là hành vi thể hiện dưới dạng “không hành động” (bất tác vi). Điều 604 Bộ luật dân sự quy định:

>> Xem thêm:  Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra ?

“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lí phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra”.

Theo quy định này, chủ sở hữu cây cối phải có ý thức ttong việc đảm bảo sự an toàn của cây cối (phát cành; nếu cây cối có nguy cơ đổ, gẫy thì phải chặt, đốn...). Nếu cây cối đổ, gẫy gây thiệt hại thì mặc nhiên chủ sở hữu bị coi là có lỗi.

3. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, việc suy đoán lỗi được áp dụng trong nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra, trong đó có trường hợp bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Súc vật là thú giữ được thuần hoá, chúng hoạt động theo bản năng, con người phải kiểm soát hoạt động của chúng. Do đó, nếu súc vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại - chủ sở hữu súc vật “bị coi” là có lỗi trong việc quản lí súc vật. Điều 603 Bộ luật dân sự quy định: “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác”. Chủ sở hữu súc vật phải luôn luôn có ý thức ưộng coi súc vật để tránh tình trạng súc vật gây thiệt hại cho người khác.

Trên thực tế có những trường hợp thiệt hại do súc vật gây ra là hậu quả bởi hành vi trái pháp luật của người thứ ba (không phải là chủ sở hữu súc vật, không phải là người bị thiệt hại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định cho người có hành vi làm cho súc vật gây thiệt hại. Hành vi làm cho súc vật gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật dẫn đến thiệt hại xảy ra. Khoản 2 Điều 603 Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khấc thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”.

Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường. Ví dụ: Một người ăn trộm trâu bò của người khác, trong khi dắt trâu bò, trâu bò gây thiệt hại thì người này phải bồi thường.

Hiện nay, có nhiều nơi đồng bào thả rông súc vật và do đó không tránh khỏi trường hợp súc vật bị thả rông gây thiệt hại. Xuất phát từ lí do này mà Bộ luật dân sự quy định: “Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội’' (khoản 4 Điều 603 Bộ luật dân sự).

4. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả

Theo khái niệm chung, mồ mả là nơi chôn cất người chết. Việc chôn cất được thực hiện theo phong tục tập quán. Mỗi địa phương có cách thức xây mồ mả, hoặc cất giữ hài cốt của người chết khác nhau, cho nên chi phí cũng khác nhau. Vì vậy, khi có hành vi vi phạm cần phải tính đến các yếu tố tập quán.

>> Xem thêm:  Hiện nay trong thực tiễn còn tồn tại vấn đề “xác định nhầm gia cầm là súc vật" và xác định cả “lỗi của súc vật” không?

Trên thực tế không ít trường hợp gây thiệt hại về mồ mả cho người khác nhưng thiếu cơ sở pháp lí để buộc người gây thiệt hại bồi thường thiệt hại. Bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm mồ mả được đề cập tại Điều 607 Bộ luật dân sự .

Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến mồ mả của người khác phải bồị thường thiệt hại. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lí để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

Ngoài những khoản thiệt hại về vật chất, người gây thiệt hại phải bồi’thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

5 :Đặc điểm của trách nhiệm BTTH

– Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.

– Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.

– Về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.

– Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…

>> Xem thêm:  Áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp thực tiễn về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ?

6 Bồi thường thiệt hại về Nhà ở, công trình xây dựng khi Nhà nước thu hồi đất

Luật 45/2013/QH13 - Đất đai: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:
Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.

3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

>> Xem thêm:  Vụ việc thực tế về việc xác định giữa trường hợp "súc vật gây thiệt hại" với "hành vi gây thiệt hại có liên quan đến súc vật"

Nghị định 47/2014/NĐ-CP - Quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:

Điều 9. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất

Việc bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Khoản 2 Điều 89 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó.

Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng (=) tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành.

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.

2. Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:

Trong đó:

>> Xem thêm:  Nguồn nguy hiểm cao độ là gì ? Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu như thế nào ?

Tgt: Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại;

G1: Giá trị xây mới nhà, công trình bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành;

T: Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt hại;

T1: Thời gian mà nhà, công trình bị thiệt hại đã qua sử dụng.

3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không còn sử dụng được thì bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, những vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.

4. Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành ban hành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

Nghị định 47/2014/NĐ-CP - Quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:
Điều 14. Bồi thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

1. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp; mức bồi thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

2. Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà ở tại nơi tái định cư; giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của Chính phủ về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; trường hợp đặc biệt không có nhà tái định cư để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới; mức hỗ trợ bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị nhà đang thuê.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự về bồi thường thiệt hại cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn thì sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Vừa qua, khi đang chơi trước nhà, con chó nhà hàng xóm vô tình bị tụt xích và đuổi cắn con tôi. Tôi đã đưa con đi xét nghiệm và tiêm phòng ngừa bệnh dại tại Viện Pasteur. Từ hôm đó đến nay, gia đình nhà hàng xóm không qua hỏi thăm cũng như không hoàn trả bất kỳ chi phí nào cho chúng tôi. Vậy trong trường hợp này, tôi có quyền yêu cầu gia đình nhà hàng xóm bồi thường thiệt hại và hoàn trả lại chi phí trong suốt thời gian qua?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra:

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.”

Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015, gia đình bạn có quyền yêu cầu gia đình hàng xóm bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần. Số tiền bồi thường bao gồm các chi phí liên quan đến việc tiêm phòng ngừa bệnh dại và các phí tổn liên quan đến việc bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe.

Câu hỏi: Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất?

Trả lời:

*Các trường hợp không được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013 như sau:

Các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013:

+ Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

+ Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

+ Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

+ Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

+ Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

+ Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

- Các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm b, d khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2013:

+ Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

+ Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;

Trường hợp tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trường hợp công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.

 

Từ việc quy định các trường hợp không được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất, có thể suy ra các trường hợp được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bao gồm:

- Trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

- Trường hợp thuộc các điểm còn lại của Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 (trường hợp quy định tại Điểm c, g, h Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013):

+ Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

+ Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

+ Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục.

Trường hợp thuộc các điểm còn lại của Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2013 (trường hợp quy định tại Điểm c, g, h Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2013):

+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

+ Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

+ Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;

+ Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Câu hỏi: Bồi thường thiệt hại đối với cây trồng, vật nuôi?

Trả lời:

Luật 45/2013/QH13 - Đất đai: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:
Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;

b) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.