1. Thực tiễn trong việc thi hành pháp luật về xử lý nợ xấu bằng taì sản bảo đảm

1.1 Khó khăn trong việc thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản

Thực tế tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản mặc dù Tổ chức tín dụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thông báo về xử lý tài sản bảo đảm theo quy định. Nhưng bên bảo đảm không hợp tác, cố tình chống đối (không di chuyển ra khỏi tài sản, không ký biên bản thu giữ tài sản, sử dụng người già, trẻ em, người có công với cách mạng… cố tình chiếm giữ tài sản bảo đảm thì tổ chức tín dụng không thể tiến hành thu giữ được tài sản bảo đảm trong trường hợp này. Giải pháp cuối cùng ở đây là tổ chức tín dụng phải nộp hồ sơ khởi kiện ra Tòa án và theo đuổi tiến trình tố tụng rất dài, tốn kém nhiều thời gian, chi phí để có thể xử lý được tài sản bảo đảm thu hồi nợ.

1.2 Khó khăn trong việc sử lý tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông đường bộ

Tương tự như vậy việc thu giữ xử lý tài sản bảo đảm là động sản (xe ô tô, phương tiện giao thông cơ giới) cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Trên thực tế luật có quy định cho phép tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho khoản vay là xe ô tô để thu hồi nợ nhưng thực tế khi phát hiện xe ô tô đã cầm cố tổ chức tín dụng cũng không thể thu giữ nếu chủ tài sản cố tình chống đối không giao xe để xử lý. Nhiều trường hợp tổ chức tín dụng có tài sản bảo đảm cho các khoản vay là xe ô tô nhưng không biết xe ô tô ở đâu, do ai đang quản lý, sử dụng đã gửi văn bản đến Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, Cục đăng kiểm để nhờ hỗ trợ nhưng cũng không thu được xe ô tô để thu nợ.

1.3 Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm mà tổ chức tín dụng nhận thay cho nghĩa vụ trả nợ

Trong trường hợp tài sản bảo đảm có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì người nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng. Thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu, sử dụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp pháp luật quy định việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng phải có sự đồng ý bằng văn bản của chủ sở hữu tài sản, hợp đồng mua bán tài sản giữa chủ sở hữu tài sản hoặc người phải thi hành án với người mua tài sản về việc xử lý tài sản bảo đảm thì hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố tài sản được dùng để thay thế cho các loại giấy tờ này.

Khoản 2 Điều 11 của Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/06/2014 về hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm quy định: Trường hợp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng sau khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có trách nhiệm nộp hồ sơ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Thông tư này thì hợp đồng tài sản bảo đảm hoặc văn bản thỏa thuận khác về việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm được sử dụng để thay thế cho hợp đồng, giấy tờ tài liệu chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm.

Thực tế xử lý tài sản bảo đảm là nhà đất của Tổ chức tín dụng cho thấy trường hợp tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm thay cho nghĩa vụ nợ của khách hàng thì việc đăng ký quyền sở hữu, sử dụng đối với nhà đất mà Tổ chức tín dụng đã nhận gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Văn phòng đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương trong cả nước đều không đồng ý chấp thuận văn bản thỏa thuận về việc xử lý tài sản cố định giữa tổ chức tín dụng với bên bảo đảm, không chấp nhận hợp đồng thế chấp, hợp đồng cầm cố  để tiến hành đăng ký quyền sở hữu, sử dụng cho tổ chức tín dụng nhận tài sản bảo đảm thay cho nghĩa vụ nợ của khách hàng, bên bảo đảm. Đối với các trường hợp này Văn phòng đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất vẫn yêu cầu phải có hợp đồng chuyển nhượng công chứng giữa tổ chức tín dụng với bên bảo đảm mới thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu, sử dụng cho tổ chức tín dụng. Một trong các lý do mà cơ quan này từ chối việc công nhận hợp đồng thế chấp cầm cố để thay thế cho hợp đồng chuyển nhượng là do chưa có hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc này nên không áp dụng.

1.4 Khó khăn trong xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ

Điều 7 Thông tư số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN quy định về xử lý tài sản thế chấp là quyền đòi nợ, theo đó trước thời điểm xử lý quyền đòi nợ 07 ngày bên nhận thế chấp phải gửi cho bên có nghĩa vụ trả nợ văn bản thông báo về xử lý quyền đòi nợ, các tài liệu liên quan đến việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền đòi nợ. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản thông báo xử lý quyền đòi nợ bên có nghĩa vụ trả nợ có trách nhiệm thanh toán khoản nợ theo các hình thức được quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 7 Thông tư số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện việc trả nợ thì bên nhận thế chấp có quyền áp dụng một trong các biện pháp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 4 Điều 7 bao gồm cả việc khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên thực tiễn xử lý quyền đòi nợ của bên thế chấp thường nổi lên những khó khăn, vướng mắc như: Bên thế chấp, bên có nghĩa vụ nợ từ chối gặp bên nhận thế chấp quyền đòi nợ, từ chối cung cấp các tài liệu liên quan đến việc xác định công nợ đã thế chấp, số tiền đã thanh toán và số tiền còn phải thanh toán... Điều này gây rất nhiều khó khăn cho bên nhận thế chấp. Nếu không xác định được công nợ của bên thế chấp và bên có nghĩa vụ trả nợ thì ngay cả khi Tòa án tuyên bên nhận thế chấp được quyền xử lý quyền đòi nợ theo hợp đồng thế chấp vẫn không thu hồi được nợ.

1.5 Khó khăn trong việc kê biên tài sản để bán đấu giá thu hồi nợ

Sau khi tổ chức tín dụng yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp để thu hồi nợ. Theo quy định tại Luật thi hành án dân sự Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án (kiểm tra lại – Tòa án hay Cơ quan THA ra quyết định THA), trường hợp hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành bản án quyết định của Tòa án thì Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định kê biên tài sản bảo đảm cho khoản vay để thi hành án. Thực tiễn thi hành án cho thấy có nhiều trường hợp người phải thi hành án gây khó khăn cho Cơ quan thi hành án dân sự các cấp và tổ chức tín dụng để trì hoàn việc kê biên, bán đấu giá tài sản bảo đảm cụ thể:

- Người phải thi hành án là chủ tài sản có đơn khiếu nại, đề nghị Tòa án, Viện kiểm sát cho hoãn thi hành án;

- Chủ tài sản cố tình tạo tranh chấp dẫn đến việc Cơ quan thi hành án dân sự phải hướng dẫn các đương sự khởi kiện vụ án dân sự để giải quyết tranh chấp và việc thi hành án bị tạm hoãn (xuất trình giấy tờ đã bán tài sản cho bên thứ ba trước thời điểm mà Tòa án tuyên kê biên phát mại cho tổ chức tín dụng);

- Có đơn từ để chính quyền địa phương nơi có tài sản bị kê biên và Cơ quan Công an không đồng ý với phương án kê biên hoặc cưỡng chế kê biên của Cơ quan thi hành án dân sự; đề nghị tổ chức tín dụng tiếp tục thỏa thuận với bên phải thi hành án hoặc bên chủ tài sản bảo đảm;

- Trong các trường hợp nêu trên, việc kê biên tài sản sẽ phải tạm hoãn ảnh hưởng đến tiến độ kê biên bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng. Thực tế thi hành án cho thấy số lượng rất lớn các vụ thi hành án chưa thi hành được trong đó có các nguyên nhân nêu trên cản trở việc thi hành án.

2. Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xử lý nợ xấu bằng tài sản bảo đảm

Bên cạnh những hiệu quả đạt được thì vẫn còn rất nhiều vướng mắc khác trong việc xử lý tài sản bảo đảm, sự phối hợp của các cấp chính quyền địa phương … đòi hỏi pháp luật cần có những quy định chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn nữa.

- Thứ nhất, pháp luật cần quy định đầy đủ và cụ thể hơn nữa về địa vị pháp lý của người quản lý giao dịch bảo đảm. Chủ thể này sẽ góp phần hỗ trợ hiệu quả cho thị trường tái phiếu cũng như đảm bảo lợi ích của các chủ nợ yếu thế. Người quản lý giao dịch bảo đảm sẽ thay mặt bên nhận bảo đảm quản lý tài sản bảo đảm và các giao dịch liên quan đến tài sản ấy.

- Thứ hai, pháp luật cũng cần quy định cụ thể giải quyết vấn đề hiệu lực của giao dịch bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp tài sản bảo đảm bị sáp nhập, trộn lẫn hoặc chế biến thành các tài sản khác. Pháp luật nên cho các bên thoả thuận, thay đổi thứ tự thanh toán.

- Thứ ba, pháp luật cần quy định về quyền ưu tiên của ngân hàng và các chủ nợ trong trường cho vay mua sắm tài sản. Theo đó, trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay đề khách hàng mua sắm tài sản và khách hàng dùng tài sản đó để làm tài sản bảo đảm thì tổ chức tín dụng sẽ được hưởng quyền ưu tiên trả nợ so với các chủ thể khác.

- Thứ tư, pháp luật cần hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản nhằm bảo đảm cho chủ nợ có thể chủ động xử lý tài sản bảo đảm mà không nhất thiết phải thông qua toà án. Các quy định xử lý tài sản không qua con đường toà án phải đảm bảo việc xử lý tài sản bảo đảm được minh bạch, công bằng, hợp lý về khía cạnh thương mại. Pháp luật cần tạo ra cơ chế xử lý tài sản bảo đảm nhah chóng, thuận tiện, giảm tốn kém bởi đây là yếu tố có ý nghĩa hiện thực hoá vai trò và ý nghĩa của biện pháp bảo dảm thực hiện nghĩa vụ. Xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là khấu cuối cùng, rất quan trọng bảo đảm quyền của chủ nợ trên thực tế được thực thi nên trên nguyên tắc chủ nợ phải được trao quyền chủ động xử lý tài sản

- Thứ năm, theo quy định của pháp luật hiện hành thì các bên bắt buộc phải có sự thoả thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm không thông qua bán đấu giá hoặc có sự đồng ý của bên bảo đảm trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không thông qua bán đấu giá là không phù hợp với lý thuyết chung về tài sản bảo đảm.  Quy định này đã khiến cho các tổ chức tín dụng không thể tự xử lý tài sản bảo đảm nhất là đối với tài sản dăng ký quyền sở hữu. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến có quá nhiều nợ xấu không được xử lý hoặc xử lý chậm. Vì vậy cần có những qui định để các tổ chức tín dụng có thể tự mình xử lý tài sản bảo đảm. Khi bên bảo đảm đem tài sản để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm thì có nghĩa là bên bảo đảm đã trao quyền định đoạt cho bên nhận bảo đảm. Như vậy trong trường hợp nghĩa vụ không thực hiện được ta có thể mặc nhiên công nhận quyền định đoạt của bên nhận bảo đảm với tài sản bảo đảm. Họ có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo phương pháp phù hợp miễn cho việc xử lý đó được thực hiện một cách công bằng, minh bạch, trung thực, hợp lý

- Thứ sáu, mặc dù Tòa án nhân tối cao đã có công văn số 152/TANDTC-PC ngày 19/7/2017 hướng dẫn tòa án các cấp giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu nhưng thực tế, vẫn cần có hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng các thủ tục tố tụng rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án.

- Thứ bảy, cần có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn về tài sản bảo đảm. Điều kiện tài sản đảm bảo được xử lý phải không là tài sản tranh chấp nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp. Điều này dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi xử lý tài sản theo Nghị quyết 42. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về thuế, phí liên quan đến xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm bởi nghĩa vụ nộp thuế có ảnh hưởng đến thủ tục sang tên cho người mua,  các quy định về tài sản bảo đảm trong trường hợp chứng minh được tài sản đó là vật chứng quan trọng trong vụ án hình sự…

Hành lang pháp lý rõ ràng về xử lý nợ xấu bằng phương pháp bảo đảm tài sản là tiền đề giúp các ngân hàng thuận lợi trong việc thu hồi nợ bằng cách xử lý các tài sản bảo đảm. Trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế như hiện nay, hệ thống pháp luật về bảo đảm tiền vay, xử lý nợ xấu là công cụ hữu hiệu giúp bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ, giảm thiểu nợ xấu tồn đọng tại các ngân hàng thương mại. Do vậy, cần có biện pháp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện có hiệu quả, đầy đủ những quy định của pháp luật nhằm phát triển kinh tế theo đúng định hướng.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)