1. Đình chỉ hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Đình chỉ hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là (Việc một văn bản quy phạm pháp luật) bị ngừng hiệu lực, chờ cơ quan có thẩm quyền xử lí.

Khi một văn bản- quy phạm pháp luật bị đình chỉ hiệu lực có thể dẫn đến một trong hai trường hợp sau:

a. Văn bản tiếp tục có hiệu lực trở lại nếu không bị huỷ bỏ;

b. Văn bản hết hiệu lực nếu bị huỷ bỏ. Thời điểm ngừng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực hoặc hết hiệu lực đều phải được quy định rõ tại quyết định đình chỉ thi hành, quyết định xử lí của cơ quan có thẩm quyền.

Đình chỉ là tạm ngừng, tạm hoãn. Một văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ hiệu lực là tạm thời bị ngừng hiệu lực pháp luật. Việc một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc thi hành một văn bản quy phạm pháp luật của một cơ quan nhà nước khác chỉ xảy ra trong trường hợp, cơ quan ra quyết định đình chỉ thường là cơ quan nhà nước cấp trên, trong khi thực hiện quyền giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với cơ quan nhà nước có văn bản bị đình chỉ nhưng không có thẩm quyền bãi bỏ bản thân văn bản đó, quyền bãi bỏ đó thuộc một số cơ quan nhà nước cấp cao hơn.

Hiến pháp đã quy định hai trường hợp có sự đình chỉ này:

1) Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền đình chỉ việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản quy phạm pháp luật đó;

2) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai, trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời, đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ nghị quyết đó.

2. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luậtlà mốc thời gian văn bản bắt đầu phát huy hiệu lực và có giá trị ràng buộc lên đối tượng điều chỉnh của nó (trong một phạm vi không gian xác định). Nói cách khác kể từ mốc thời gian này, văn bản quy phạm pháp luật có thể được viện dẫn làm căn cứ pháp lý giải quyết các vụ việc thực tế phát sinh trong đời sống xã hội. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại điều 151 Luật 2015 gồm 2 Khoản.

Khoản 1 xác lập nguyên tắc chung cho trường hợp phổ quát trong khi Khoản 2 xác lập nguyên tắc cho trường hợp đặc biệt (văn bản quy phạm pháp luậtban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn). Có thể thấy đây là cách xây dựng điều luật kín kẽ, đảm bảo không có một trường hợp ngoại lệ bất quy tắc nào trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản, từ đó tránh sự tùy tiện của chủ thể ban hành.


Về nguyên tắc phổ quát, văn bản quy phạm pháp luậtkhông được phép có hiệu lực pháp lý ngay lập tức mà thời điểm có hiệu lực phải cách thời điểm văn bản đó được thông qua hoặc ký ban hành một khoảng thời gian nhất định được tính bằng ngày.

Điều này đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức triển khai của các chủ thể hữu quan cũng như tống đạt thông tin đầy đủ đến các cá nhân, tổ chức là đối tượng điều chỉnh trực tiếp của văn bản. Nếu như khoảng thời gian “chờ” tối thiểu 45 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật của trung ương được cho là phù hợp và tiếp tục được kế thừa từ khoản 1 Điều 78 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (sau đây gọi là Luật 2008) thì việc tính thời điểm có hiệu lực đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương có nhiều điểm đổi mới.

Thứ nhất, Luật 2015 đã thống nhất hóa nguyên tắc “thời điểm có hiệu lực của văn bản phải được quy định ngay trong chính văn bản đó” đối với tất cả các loại văn bản quy phạm pháp luật của tất cả các chủ thể. Trước đây, chỉ văn bản quy phạm pháp luật của trung ương (được điều chỉnh theo Luật 2008) mới bắt buộc phải ghi rõ thời điểm có hiệu lực tại văn bản, còn các văn bản quy phạm pháp luậtcủa địa phương (được điều chỉnh theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2004) thì sẽ theo công thức mặc định để nội suy thời điểm bắt đầu có hiệu lực dựa vào ngày nó được thông qua (nếu là Nghị quyết của Hội đồng nhân dân) hoặc ngày nó được ký ban hành (nếu là Quyết định của Ủy ban nhân dân).

Chủ thể có thẩm quyền sẽ chỉ ghi rõ thời điểm có hiệu lực vào trong văn bản nếu muốn văn bản đó có hiệu lực muộn hơn so với công thức mặc định. Về điểm này, theo tác giả lối quy định của Luật 2015 là phù hợp, vừa đảm bảo tinh thần pháp chế, vừa nâng cao trách nhiệm của chủ thể ban hành mà vẫn trao cho họ quyền chủ động nhất định.


Về nguyên tắc cho trường hợp đặc biệt, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành kèm theo một số điều kiện liên quan đến việc công khai văn bản. Nguyên tắc này không mới mà đã được ghi nhận từ trong Luật 2008 (việc nới rộng thời hạn phải đăng công báo kể từ khi văn bản được thông qua hoặc ký ban hành từ 2 lên 3 ngày không phải là đổi mới đáng kể). Nếu xét bản thân nội dung của khoản 1 Điều 151 thì quy định này hoàn toàn phù hợp và cần tiếp tục duy trì để tạo sự linh hoạt cho hoạt động lập pháp, lập quy trong những tình huống cần phản ứng nhanh. Tuy nhiên, điều đáng bàn nằm ở Điều 146 về các trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Nhóm trường hợp thứ nhất được quy định tại Khoản 1 gồm: (i) Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; (ii) trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; (iii) trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội. Có tác giả khẳng định rằng quy định này có sự trùng lặp bởi trường hợp (ii) đã nằm trong trường hợp (i). Bên cạnh đó, Luật 2015 không liệt kê đầy đủ các trường hợp nào được coi là tình trạng khẩn cấp mà viện dẫn đến “pháp luật về tình trạng khẩn cấp”, có thể hiểu đó là Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2002 (vẫn có hiệu lực đến thời điểm hiện tại). Song Pháp lệnh trên dường như là một văn bản thuộc nhóm bí mật nhà nước khi không thể tra cứu toàn văn trên các cơ sở dữ liệu về hệ thống pháp luật. Từ đây nảy sinh một sự nghi ngại về nguy cơ chủ thể ban hành lạm dụng việc xây dựng, ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn bằng cách gán nó vào một “trường hợp khẩn cấp” mà không thể đối chiếu chính xác rằng có được pháp luật định trước hay không. Về nhóm trường hợp tại Khoản 2, người viết cho rằng sự bổ sung này là hợp lý, bởi văn bản được ban hành để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của một VBQPPL khác trong một thời hạn nhất định bản thân nó không chứa ý tưởng lập pháp mà chỉ xác định lại hiệu lực pháp lý cho một văn bản đang có hiệu lực nên không cần thiết phải trải qua tất cả các thủ tục như quy trình đầy đủ. Các văn bản này thường có vòng đời ngắn và mang giá trị điều chỉnh lâm thời nên cần ưu tiên sự kịp thời, nhanh chóng trong khâu ban hành.

Như vậy về cả mặt thực tiễn lẫn khoa học đều có cơ sở để cho phép ban hành những văn bản thuộc nhóm này theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, Luật hiện hành chưa đề cập đến việc ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn để kéo dài hiệu lực của một văn bản quy phạm pháp luật lẽ ra sẽ chấm dứt hiệu lực theo một căn cứ khác, đây là tình huống trên thực tế tuy không xảy ra nhiều nhưng sẽ không tránh khỏi. Về nhóm trường hợp tại khoản 3, tác giả cho rằng cần mở ra thêm cả khả năng ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn để kịp thời thực hiện các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, từ đó giải quyết tốt hơn nhu cầu nội luật hóa cácđiều ước quốc tế đang dần trở thành một loại nguồn quan trọng của pháp luật Việt Nam.

3. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật bị ngưng hiệu lực

Một văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực có thể bị ngưng hiệu lực tạm thời theo một trong hai căn cứ quy định tại điểm a và điểm b, Khoản 1, Điều 153.

Văn bản quy phạm pháp luật bị ngưng hiệu lực không nhất thiết phải là văn bản có khiếm khuyết về nội dung hay hình thức. Quy định tại điểm b cho phép chủ thể đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định việc ngưng hiệu lực của văn bản đó (bằng một văn bản khác được ban hành theo thủ tục rút gọn như đã để cập ở trên) khi những điều kiện khách quan về kinh tế, xã hội thay đổi làm phát sinh những vấn đề mới chưa được trù liệu đầy đủ tại thời điểm xây dựng văn bản. Đây là điểm mới có ý nghĩa rất tích cực so với các đạo luật tiền nhiệm và đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của thực tiễn song nó lại chưa thực sự thống nhất với các quy định về các biện pháp xử lý văn bản. Bởi theo tinh thần của Điều 153, “ngưng hiệu lực” ở điểm a Khoản 1 là một trạng thái pháp lý phát sinh từ hệ quả của việc áp dụng biện pháp “đình chỉ”, còn ngưng hiệu lực ở điểm b Khoản 2 lại giống như tên gọi của một biện pháp xử lý riêng biệt.

Tuy nhiên, Luật 2015 chưa ghi nhận “ngưng hiệu lực” như một biện pháp xử lý độc lập bên cạnh sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ và đình chỉ (Điều 12). Một điểm nữa tác giả cũng cho là không hợp lý đó là cụm từ “cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” xuất hiện khá khiên cưỡng tại Khoản 1 và nếu bỏ hẳn đi cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung của quy định này, bởi Khoản 2 đã khẳng định rõ: “Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

4. Văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. (Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).

Theo từ điển bách khoa toàn thư, Văn bản quy phạm pháp luật hay còn gọi là Văn bản pháp quy là một hình thức pháp luật thành văn (Văn bản pháp) được thể hiện qua các văn bản chứa được các quy phạm pháp luật do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 của Việt Nam thì Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.

5. Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật mang những dấu hiệu cơ bản sau:

- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành.

- Việc ban hành luôn luôn theo thủ tục, trình tự luật định.

- Nội dung văn bản quy phạm pháp luật gồm những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung (quy phạm pháp luật). Đó là những khuôn mẫu của hành vi mà mọi thành viên xã hội hoặc các cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan phải xử sự theo.

- Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Nhà nước sử dụng mọi biện pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, pháp luật, trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt, để bảo đảm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành. Biện pháp cưỡng chế có tính trừng phạt chỉ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng khi có vi phạm pháp luật xảy ra và việc áp dụng đó cũng dựa trên cơ sở nhằm giáo dục, thuyết phục, cải tạo.

- Văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong thực tế đời sống, được áp dụng khi có sự kiện pháp lý xảy ra; được tất cả thành viên xã hội hoặc cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan thực hiện nhiều lần cho tới khi nó bị đình chỉ hoặc bị sửa đổi hoặc bị bãi bỏ một phần hay toàn bộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là sự điều chỉnh có phạm vi (giới hạn) nhất định về thời gian, không gian và đối tượng điều chỉnh.

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (sưu tầm & phân tích)