Khái niệm đình chỉ tố tụng

Đình chỉ tố tụng là một trong những cách thức cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc vụ án. Việc đình chỉ tố tụng có thể được thực hiện ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi có những căn cứ do pháp luật quy định.

Đình chỉ tố tụng trong tố tụng hình sự

Vụ án đã có quyết định đình chỉ thì không được phục hồi điều tra, truy tố hoặc xét xử. Trường hợp quyết định đình chỉ vụ án bị phát hiện là trái pháp luật thì sẽ bị huỷ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong tố tụng hình sự, các thuật ngữ đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án cũng đều có nghĩa là đình chỉ tố tụng. Tuỳ theo từng giai đoạn tố tụng mà Cơ quan điều tra quyết định đình chỉ điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án quyết định đình chỉ vụ án. Những căn cứ để đình chỉ tố tụng hình sự là: không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm. Ngoài ra, Viện kiểm sát cũng có thể ra quyết định đình chỉ vụ án nếu thấy vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây: người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm; do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây nguy hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

Ở giai đoạn điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định đình chỉ điều tra; ở giai đoạn truy tố, Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định đình chỉ vụ án; ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa quyết định đình chỉ vụ án; nếu vụ án được đưa ra xét xử tại phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ vụ án.

Các trường hợp đình chỉ vụ án hình sự

(i) Đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố

Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ sau:Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu;Không có sự việc phạm tội;Hành vi không cấu thành tội phạm;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;Tội phạm đã được đại xá;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố; Có căn cứ xác định người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; Người phạm tội có căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự; Người phạm tội là người dưới 18 tuổi thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.
Đối với trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu. Nếucó căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Viện kiểm sát vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

(ii) Đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợ sau:Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;Tội phạm đã được đại xá;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.

(iii) Đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

Thẩm quyền đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là Hội đồng xét xử phúc thẩm. Các căn cứ đình chỉ vụ án: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;Tội phạm đã được đại xá;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

(iv) Đình chỉ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm

Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong các trường hợp sau:Không có sự việc phạm tội;Hành vi không cấu thành tội phạm;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;Tội phạm đã được đại xá;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

(v) Đình chỉ vụ án trong giai đoạn tái thẩm

Trong giai đoạn tái thẩm, Hội đồng tái thẩm có thể ra quyết định định chỉ trong các trường hợp sau: Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án;Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.

Đình chỉ tố tụng trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự, thuật ngữ đình chỉ tố tụng có nghĩa là đình chỉ việc giải quyết vụ án. Sau khi thụ lí vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đỉnh chỉ giải quyết vụ án dân sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau: nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan được quy định cụ thể tại Điều 156 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;

“Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”

  • Các trường hợp làm căn cứ cho Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong BLTTDS chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác
  • Hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó
  • Hoặc trong các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lí và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Ở giai đoạn điều tra và chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công thụ lí vụ án có quyền quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu vụ án đã đưa ra xét xử thì Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ vụ án và phải tống đạt quyết định đó cho các đương sự vắng mặt.

Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

Trường hợp 1:

Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì: Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

Trường hợp 2:

Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì: Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

Trường hợp 3:

Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập

⇒ Thì:

  • Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn;
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn,
  • Người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.