Thưa luật sư, xin luật sư cho tôi biết định tội danh trong trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm xác định như thế nào? Những lưu ý khi định tội danh trong trường hợp này là gì? Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn! (Nguyễn Dương - Thừa Thiên Huế)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

2. Tái phạm là gì? Tái phạm nguy hiểm là gì? Định tội danh là gì?

Để tìm hiểu về định tội danh trong trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm trước hết cần hiểu chính xác thuật ngữ "định tội danh" và các trường hợp nào được coi là "tái phạm" và "tái phạm nguy hiểm".

Tái phạm và tái phạm nguy hiểm được quy định cụ thể tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó,

Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Tái phạm nguy hiểm là những trường hợp sau đây:

+ Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

+ Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Có thể thấy quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) không có nhiều thay đổi về mặt ý nghĩa so với quy định tại Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999. Sự thay đổi cụ thể chính là thay thế cụm từ "phạm tội" chuyển thành cụm từ "thực hiện hành vi phạm tội".

Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định.

3. Lưu ý khi định tội danh đối với tái phạm và tái phạm nguy hiểm

Tương tự như tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm được các nhà làm luật quy định trong luật hình sự với những ý nghĩa khác nhau, do vậy chúng phải được nhận thức đầy đủ với sự khác nhau đó để khi định tội danh đối với tái phạm, tái phạm nguy hiểm không bị nhầm lẫn.

Như vậy, theo pháp luật hình sự hiện hành thì tái phạm, tái phạm nguy hiểm là những trường hợp một người phạm tội mới trong thời gian người phạm tội đó chưa được xóa án tích. Vì vậy, điều quan trọng khi định tội danh đối với tái phạm, tái phạm nguy hiếm là xác định rõ trạng thái án tích của người phạm tội. Do đó, để định tội danh một người nào đó là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, cần phải chú ý đến điều kiện người đó đã bị xét xử về tội phạm trước đây và tội đó chưa được xóa án tích.

Trong khi định tội danh đối với trường hợp tái phạm nguy hiểm cần đặc biệt thận trọng, bởi lẽ khi coi một người là tái phạm nguy hiểm làm nảy sinh những hậu quả pháp lý nhất định như: đối với việc định tội danh, đối với việc quyết định hình phạt, hoặc đối với việc ấn định chế độ thi hành hình phạt. Bởi vì, theo pháp luật hình sự nước ta, tái phạm nguy hiểm được quy định với hai ý nghĩa: ý nghĩa định tội danh và ý nghĩa quyết định hình phạt. Pháp luật thi hành án hình sự (Pháp lệnh thi hành án phạt tù) cũng cân nhắc tình tiết đó khi xây dựng chế độ thi hành án.

3.1. Ví dụ về định tội danh trong trường hợp tái phạm nguy hiểm đúng

Ví dụ: Nguyễn Anh T sinh năm 1976, trú tại: số 2, đường TC, phường PM, TX, thành phố HN đã có hành vi phạm tội như sau: khoảng 19 giờ ngày 24-1- 2000, Nguyễn Anh T đến khu nhà B3 tập thể TT - ĐĐ - thành phố HN để trộm cắp, khi lên phòng 302 thấy cửa phòng mở không có người trong nhà, T vào phòng lấy cắp một chiếc điều khiển vô tuyến Sony đi ra đến cầu thang thì bị anh Võ Hoài N là chủ nhà phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội. Về nhân thân, T có những tiền án như sau:

+ Ngày 25-4-1994, T bị Tòa án quận HBT xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân, hạn thử thách là 12 tháng.

+ Ngày 20-11-1996, bị Tòa án quận ĐĐ xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Buộc chấp hành 12 tháng án treo nêu trên thành án giam. Tổng hợp hình phạt của hai bản án T phải chịu hình phạt chung là 36 tháng tù giam.

+ Ngày 9-5-2000, Tòa án nhân dân thành phố HN xét xử T về hành vi trộm cắp điều khiển vô tuyến được thực hiện vào ngày 24-01-2000. Tòa án nhân dân thành phố HN áp dụng điểm d khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự 1985 định tội danh T là tái phạm nguy hiểm tội trộm cắp tài sản của công dân.

Qua ví dụ trên, việc định tội danh của Tòa án nhân dân thành phố HN đối với hành vi trộm cắp điều khiển vô tuyến của Nguyễn Anh T với tình tiết tái phạm nguy hiểm là hoàn toàn chính xác. Bởi lẽ, Nguyễn Anh T đã có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản của công dân chưa được xoá án tích, nay lại phạm tội trộm cắp chiếc điều khiển vô tuyến Sony của anh Võ Hoài N, mặc dù tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn, nhưng vẫn phải định tội danh trường hợp phạm tội lần này của bị cáo là trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Vấn đề xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP ngày 4-8-2000. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy vẫn còn không ít Tòa án định tội danh không đúng về tái phạm, tái phạm nguy hiểm, từ đó dẫn đến việc quyết định hình phạt không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tái phạm và nhân thân người phạm tội.

3.2. Ví dụ về định tội danh trong trường hợp tái phạm không đúng

Ví dụ: Chúng ta có thể nêu ví dụ về một trường hợp định tội danh không đúng đối với tái phạm: ngày 20-7-2000, Nguyễn Văn A điều khiển mô tô loại 100 phân khối trên đường (A có bằng lái xe loại 100 phân khối). A phóng nhanh, vượt ẩu, không làm chủ được tốc độ, nên đã gây ra tai nạn giao thông làm chết một người. A đã có một tiền án, vì ngày 30-7-1997, bị Tòa án xử phạt 9 tháng tù về tội cố’ ý gây thương tích, phải bồi thường 235.000 đồng và phải chịu án phí. A chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 2 năm 1998, chấp hành xong tiền bồi thường, tiền án phí vào ngày 20-5-1998. Khi xét xử A về hành vi phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tòa án tỉnh H đã định tội danh A phạm tội lần này là trường hợp tái phạm, nên quyết định áp dụng khoản 1 Điều 202, các điểm b, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 để xử phạt A.

Chúng tôi cho rằng, trong vụ án này, Tòa án tỉnh H xác định A phạm tội lần này là tái phạm là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999, bởi lẽ điều quan trọng nhất trong việc xác định đối với tái phạm trong trường hợp này là xem xét tình trạng án tích của Nguyễn Văn A. Cụ thể:

Về việc chấp hành bản án ngày 30-7-1997: căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Bộ luật hình sự năm 1999 về cách tính thời hạn để xóa án tích và kết quả thi hành án, thì A đã chấp hành xong bản án từ ngày 20-5-1998.

Về thời hạn để được xóa án tích: theo quy định tại khoản 1 Điều 67 và điểm b khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, thì kể từ ngày 20-5-1998 đến ngày 20-5-2001 (3 năm), mà A không phạm tội mới, thì A đương nhiên được xóa án tích, nhưng đến ngày 20-7-2000, nghĩa là mới được 26 tháng, A lại phạm tội mới, cho nên A chưa được xóa án tích. Nhưng A đã phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, mà mức cao nhất của khoản này là 5 năm tù. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8, thì đây thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Như vậy, mặc dù A có tiền án, chưa được xóa án tích và lại phạm tội mới, nhưng không thể định tội danh A là tái phạm vì A không phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Việc Tòa án tỉnh H đã định tội danh A phạm tội lần này là tái phạm là không đúng với khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự 1999.

3.3. Ví dụ về định tội danh không đúng đối với tái phạm nguy hiểm

Về định tội danh không đúng đối với tái phạm nguy hiểm, chúng ta có thể nêu một ví dụ sau: ngày 27-5-2000, Nguyễn Mạnh T có hành vi trộm cắp một chiếc xe đạp. về nhân thân, T có những tiền án như sau:

+ Ngày 21-10-1992, T bị Tòa án xử phạt 15 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được thực hiện vào tháng 6 năm 1992.

+ Ngày 4-12-1992, bị Tòa án xử phạt 46 tháng tù về tội cướp tài sản của công dân và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được thực hiện vào ngày 13-8-1992. T đã thi hành xong hình phạt tù của hai bản án vào tháng 6 năm 1996, thi hành tiền bồi thường, tiền án phí vào ngày 28-5-1997.

+ Ngày 8-11-2000, Tòa án tỉnh V xét xử T về hành vi trộm cắp xe đạp được thực hiện vào ngày 27- 5-2000. Tòa án tỉnh V định tội danh T phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm.

Chúng tôi cho rằng, việc định tội danh T tái phạm nguy hiểm là không đúng, bởi lẽ, căn cứ vào hồ sơ vụ án, thì ngày 21-10-1992, Tòa án đã xử phạt T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được thực hiện vào tháng 6-1992 với mức án là 15 tháng tù giam; ngày 4-12-1992, Tòa án lại xử phạt T về hành vi lừa đảo và hành vi cướp tài sản của công dân được thực hiện vào ngày 13-8-1992. Đây là trường hợp hành vi phạm tội trước xử trước, hành vi phạm tội sau xử sau, nghĩa là trong lần xét xử thứ hai T chưa phải là tái phạm. T đã chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án (61 tháng tù) vào tháng 6-1996, chấp hành xong các khoản tiền bồi thường và án phí vào tháng 5 năm 1997, nhưng theo điểm c khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, T chưa được đương nhiên xóa án tích, vì chưa hết thời hạn 5 năm (từ ngày 28-5-1997 đến ngày 28-5-2002), T lại phạm tội mới vào ngày 27-5-2000. T chưa được xóa án tích, lại phạm tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 138 với mức cao nhất của khung hình phạt là 3 năm tù (tội ít nghiêm trọng), cho nên theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự 1999, T không phải là tái phạm nguy hiểm (vì hành vi trộm cắp tài sản của T không phải là phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và các hành vi lừa đảo, cướp tài sản chưa phải là hành vi tái phạm). Cho nên, T chỉ bị định tội danh là tái phạm theo khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự 1999, chứ không phải là tái phạm nguy hiểm như Tòa án tỉnh V đã xét xử.

Qua phân tích trên đây có thể thấy rằng việc định tội danh trong trường hợp tái phạm hay tái phạm phụ thuộc rất nhiều vào cách hiểu đúng hành vi nào là tái phạm và hành vi nào là tái phạm nguy hiểm. Bởi vậy muốn định tội danh đúng trong trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm người có thẩm quyền cần có cách hiểu đúng đắn về tái phạm và tái phạm nguy hiểm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Định tội danh trong trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập