Mặc dù được Tuấn và một người hàng xóm đưa ngay đến bệnh viện X nhưng cháu bé không qua khỏi. Xác định nguyên nhân gây nên cái chết cho cháu bé, tổ chức giám định pháp y thành phố H kết luận: Nạn nhân bị vỡ hộp sọ do ngoại lực tác động. Ngày 20/08/2004, cơ quan điều tra công an thành phố H đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Anh Tuấn về tội “giết người” theo khoản 1 điều 93 BLHS. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển đến, ngày 10/04/2005 viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã ra cáo trạng truy tố Nguyễn Anh Tuấn về tội ”cố ý gấy thương tích” theo khoản 3 điều 104 BLHS. Hồ sơ cùng bản cáo trạng được chuyển đến toà án nhân dân thành phố H.

Câu hỏi 1: Anh chị có nhận xét gì về tội danh mà cơ quan điều tra đã khởi tố và viện kiểm sát truy tố đối với Nguyễn Anh Tuấn. Hãy xác định tội danh đối với Nguyễn Anh Tuấn.

Câu hỏi 2: Với tội danh mà anh chị đã xác định thì thẩm quyền xét xử thuộc toà án nào. Tại sao. Tình tiết bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán lại cho rằng, hành vi của tuấn cấu thành tội “cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo quy định tại điều 105 BLHS và ra quyết định trả hồ sơ cho viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung. Sau khi tiến hành những hoạt động điều tra bổ sung, viện kiểm sát đã không bổ sung được những vấn đề mà thẩm phán đã yêu cầu và lại gửi hồ sơ đến toà án.

Câu hỏi 3: Hãy nhận xét về việc ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của thẩm phán. Theo anh chị, toà án phải xử lý như thế nào sau khi viện kiểm sát không bổ sung được theo yêu cầu của toà án. Tình tiết bổ sung ngày 03/06/2005, toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử

Câu hỏi 4: Toà án cần triệu tập những ai, với tư cách tham gia tố tụng gì đến phiên toà. Tình tiết bổ sung tại phiên toà, bị cáo yêu cầu thay đổi vị nữ hội thẩm nhân dân với lý do vị nữ hội thẩm này là hội trưởng hội phụ nữ quận. Trước đây, khi vợ chồng bị cáo có mâu thuẫn, bà đã từng hai lần cùng hội phụ nữ phường đến hoà giải và lần nào cũng có ý bênh vực vợ bị cáo. Vì vậy, hội thẩm sẽ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Câu hỏi 5: Theo anh chị, yêu cầu của bị cáo có được chấp nhận không. Nếu không thì tại sao. Nếu có thì hội đồng xét xử phải xử lý như thế nào. Tình tiết bổ sung sau khi xét hỏi, kiểm sát viên đã kết luận rằng Nguyễn Anh Tuấn không phạm tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 điều 104 BLHS mà phạm tội “vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 điều 98 BLHS.

Câu hỏi 6: Theo anh chị, hội đồng xét xử cần xử lý như thế nào trong trường hợp trên. Giải thích vì sao cần xử lý như vậy. .

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

 

Trả lời: 

>> Xem thêm:  Điều kiện để được đề nghị đặc xá, giảm án ? Hồ sơ xét đặc xá ?

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự 1999 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015)

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

2. Nội dung tư vấn

Câu 1: Đối với tội danh mà cơ quan điều tra đã khởi tố và Viện kiểm sát truy tố đối với Nguyễn Anh Tuấn là chưa chính xác.

Thứ nhất đối với nhận định của cơ quan điều tra sai ở chỗ. Để có thể định tội danh là Giết người thì hành vi mà anh Tuấn gây ra đối với cháu bé là cố ý. Tức là trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng của cháu bé anh Tuấn nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây cho cháu bè chết và mong muốn cho cháu bé chết hoặc bỏ mặc cho cho cháu bé chết. Nhưng thực tế việc anh Tuấn đưa tay đánh trúng đầu cháu bè là trường hợp ngoài ý muốn. Vì anh Tuấn không lường trước được việc Chị Yến lại đưa đứa con ra để đỡ cú đánh của anh. Hơn nữa sau khi đánh trúng đầu cháu bé thì anh Tuấn ngay lập tức đưa cháu bé đến bệnh viện X nhưng cháu bé không qua khỏi. Từ đó cho thấy rằng về Mặt chủ quan và Mặt khách quan hoàn toàn không thỏa mãn ở Tội “giết người” do đó hành vi của anh Tuấn không đủ cơ sở để cấu thành Tội giết người.

Thứ hai là ý kiến Viện kiểm sát cho rằng hành vi của anh Tuấn phạm vào tội “Cố ý gấy thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 không đúng ở chỗ. Ở trường hợp này cháu bé bị mất mạng do hành vi đánh bằng tay vào đầu của cháu bé hoàn toàn không phải do ý chí mong muốn của anh Tuấn. Mà việc cháu bé bị đánh trúng đầu là do hành vi của chị Yến đã theo phản xạ gây nên cái chết cho cháu bé. Tức là ở đây anh Tuấn thực hiện hành vi đánh trúng đầu cháu bé là không cố ý mà mục đích là đánh vào cơ thể chị Yến. Anh Tuấn cũng không có nhận thức rằng hành vi của anh nhất định hoặc có thể xẩy ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho cháu bé; cũng không mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra. Do đó về mặt Chủ quan và Mặt khách quan cũng không thỏa mãn để áp dụng khung hình phạt theo khoản 3 Điều 104  tội “Cố ý gấy thương tích” BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

Tội danh đối với Nguyễn Anh Tuấn trong trường hợp này là Tội “vô ý làm chết người”khoản 1, điều 98 BLHS 1999 sửa đổi 2009. Vì về mặt khách quan: Hành vi của anh Tuấn diễn ra trong hoàn cảnh trên người chi Yến đang bế cháu bé, cháu bé mới được 2 tháng tuổi. Nên khi anh Tuấn ra tay đánh chi Yến thì anh Tuấn hoàn toàn có thể nhận thức được, thấy trước được hành vi của mình có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của cháu bé. Với hành vi là cố ý gây thươn tích cho chị Yến nhưng hậu quả vô ý là gây ra cái chết cho cháu bé. Về mặt chủ quan thì anh Tuấn thừa khả năng nhận thấy hành động của mình có thể anh hưởng đến cháu bé. Nhưng anh cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn chặn được . Kết quả hậu quả đãn xẩy ra ngoài ý muốn.

>> Xem thêm:  Cách hiểu đúng về "áp giải" và "dẫn giải" theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành

Câu  2:  Với tội danh là  “Vô ý làm chết người” khoản 1 , điều 98 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 thì thẩm quyền xét xử thuộc tòa án nhân dân quận H. Căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

“Điều 170. Thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp
1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.”
                       

Câu 3: Việc tòa án ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán  trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và việc xác định tội danh qua hồ sơ vụ án khác với quan điểm của Viện kiểm sát . Ý kiến như sau:

Thứ nhất thời điểm Thẩm phán ra quyết định là phù hợp với quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

“Điều 176. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.
2. Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây:
b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;”

Thứ hai là việc thẩm phán trả hồ sơ điều tra bổ sung là không đúng. Căn cứ Thông tư liên tịch 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung do viện kiểm sát nhân dân tối cao - bộ công an - tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định

“Điều 3. Căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác
1. “Có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 của BLTTHS khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;
2. Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp thuộc điểm a khoản 1 Điều này, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị can (bị cáo) về một hay nhiều tội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố;”

Vì ở khung hình phạt mà Viện khiểm sát truy tố tại khoản 3 điều 104 BLHS 1999 SỬA ĐỔI 2009 là 5 năm đến 15 năm. Còn khung hình phạt mà Tòa án xác định tại điểm b, khoản 2, điều 105 BLHS 1999 SỬA ĐỔI 2009 là từ 1 năm đến 5 năm. Do đó mức tòa án xác định sau khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ sang Tòa án là một tội khác nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát truy tố.

Thứ ba là khi Viện Kiểm sát không bổ sung được theo yêu cầu của Toà án thì tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

"Điều 179. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung...
2. Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án..."

Câu  4: Tòa án cần triệu những người với tư cách tham gia tố tụng đến phiên tòa gồm ;

1: Anh Nguyễn Anh Tuấn – Bị cáo.

2: Chị Hà Thị Yến – Người có quyền lời và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

2: Người hàng xóm đã cùng anh Tuấn đưa cháu bé đi bệnh viện- Người làm chứng

>> Xem thêm:  Chém người khác bị xử phạt như thế nào ?

3: Giám định viên trực tiếp giám định – Người giám định.

Câu  5: Yêu cầu của bị cáo không được chấp nhận.

Vì nguyển nhân bị cáo Tuấn cho rẳng Hội thẩm nhân dân tiến hành phiên tòa là Hội phụ nữ quận. Đã hai lần cùng Hội phụ nữ phường đến hòa giải và có ý kiến bảo vệ vợ bị cáo tuấn. Lý do này không thuộc trường hợp được quy định tại 

Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất "những quy định chung" của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 do hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao ban hành quy định:
“4. Về quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự
a) Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu họ là người thân thích của một trong những người sau đây trong vụ án hình sự mà họ được phân công xét xử:
- Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Bị can, bị cáo.
b) Người thân thích của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là người có quan hệ sau đây với một trong những người này:
- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
- Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
- Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; là cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
c) Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế...) có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Ví dụ: Hội thẩm là anh em kết nghĩa của bị can, bị cáo; Thẩm phán là con rể của bị cáo; người bị hại là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làm việc... mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế.....
Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu trong cùng một phiên tòa xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên, thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án là người thân thích với nhau.”

Việc Hội thẩm này từng có ý kiến bảo vệ vợ bị cáo là hoàn toàn diễn ra khách quan trên cơ sở trách nhiệm của Hội trưởng hội phụ nữ. Không nằm trong các mỗi quan hệ thông gia, tình cảm, kinh tế, cộng tác.

Nếu có thì Hội đồng xét xử phải xử lý theo khoản 2, điều 46 Bộ luật tố tụng năm 2003 như sau:

Điều 46. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm

2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên toà do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.
Trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên toà, thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà.

Việc cử thành viên mới của Hội đồng xét xử do Chánh án Toà án quyết định. 

Câu 6: Theo anh chị, Hội đồng xét xử cần xử lý như thế nào trong trường hợp trên? Giải thích vì sao cần xử lý như vậy?

Trong quá trình xét hỏi, Kiểm sát viên chuyển đổi tội danh thì Hội đồng xét xử phải xử lý như sau:

Trong trường hợp này Hội đồng xét xử sẽ phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Căn cứ theo khoản 1 điều 179 của BLTTHS 2003 quy định:

“Điều 179. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1. Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;
c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.”

3. Bài viết tham khảo thêm:
>> Lỡ tay đánh chết người thì bị ghép vào tội gì?

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Định tội danh và nhận định tố tụng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Luật sư định tội danh đối với người mang quốc tịch Việt Nam đang định cư ở nước ngoài ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Một số vấn đề về định tội danh trong pháp luật hình sự ?