1. Doanh nghiệp có mạng viễn thông có thuộc doanh nghiệp viễn thông hay không?

Theo quy định tại khoản 23 Điều 3 của Luật Viễn thông 2009, doanh nghiệp viễn thông là những doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông. Trong danh sách này, doanh nghiệp viễn thông bao gồm cả những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng và những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng.

Để hiểu rõ hơn, ta cần định nghĩa hai khái niệm quan trọng: viễn thông và mạng viễn thông. Theo đó, viễn thông được hiểu là quá trình gửi, truyền, nhận và xử lý các dạng thông tin như ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác, thông qua các phương tiện như đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và các phương tiện điện từ khác.

Mạng viễn thông, theo định nghĩa, là một hệ thống các thiết bị viễn thông được liên kết với nhau thông qua các đường truyền dẫn, nhằm cung cấp dịch vụ viễn thông và các dịch vụ ứng dụng viễn thông. Nó là cơ sở hạ tầng quan trọng để hỗ trợ việc truyền thông và truy cập thông tin giữa các thiết bị và người dùng.

Từ đó, ta có thể suy ra rằng nếu một doanh nghiệp có mạng viễn thông, thì theo quy định, nó cũng được xem là một doanh nghiệp viễn thông. Có nghĩa là doanh nghiệp đó có khả năng cung cấp các dịch vụ viễn thông thông qua hệ thống mạng viễn thông của mình. Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp viễn thông không sở hữu hạ tầng mạng, nhưng vẫn có thể kinh doanh các dịch vụ viễn thông khác mà không cần phải xây dựng và quản lý mạng riêng.

Tóm lại, Luật Viễn thông 2009 đã định nghĩa rõ ràng về doanh nghiệp viễn thông, bao gồm cả những doanh nghiệp có và không có mạng viễn thông. Điều này giúp tạo ra một khung pháp lý cho hoạt động viễn thông trong nước, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của viễn thông và mạng viễn thông trong việc giao tiếp và truy cập thông tin trong cuộc sống hiện đại.

 

2. Doanh nghiệp có mạng viễn thông phải hoàn thành việc ngăn chặn truy cập phim vi phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước trong vòng mấy giờ?

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 131/2022/NĐ-CP về trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông, các doanh nghiệp này phải tuân thủ các quy định sau đây:

- Trong trường hợp phát hiện phim phổ biến trên không gian mạng có nội dung vi phạm pháp luật và ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Việt Nam, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có quyền yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông thực hiện ngay các biện pháp ngăn chặn truy cập vào phim vi phạm pháp luật. Biện pháp ngăn chặn này chỉ được gỡ bỏ sau khi các vi phạm đã được xử lý theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Các tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông phải triển khai các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn việc truy cập vào phim vi phạm pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thời gian hoàn thành triển khai các biện pháp này không được vượt quá 03 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu.

- Các nội dung của phim vi phạm liên quan đến xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan phải được xử lý theo quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Do đó, các doanh nghiệp có mạng viễn thông phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và kịp thời triển khai các biện pháp kỹ thuật cần thiết để ngăn chặn truy cập vào phim vi phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thời gian để hoàn thành triển khai các biện pháp này không được quá 03 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu. Nhằm đảm bảo trật tự, an ninh và tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực viễn thông, Nghị định 131/2022/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm của tổ chức và doanh nghiệp có mạng viễn thông trong việc ngăn chặn truy cập vào phim vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

Theo quy định, khi phát hiện có phim phổ biến trên mạng vi phạm pháp luật và có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Việt Nam, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có quyền yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông thực hiện ngay các biện pháp ngăn chặn truy cập vào phim vi phạm đó. Các biện pháp này nhằm đảm bảo rằng phim vi phạm sẽ không được truy cập và phổ biến trên không gian mạng. Đồng thời, các biện pháp ngăn chặn chỉ được gỡ bỏ sau khi các vi phạm đã được xử lý theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

3. Quy định về Nhà nước đầu tư, hỗ trợ cho các hoạt động điện ảnh

Theo khoản 2 Điều 5 Luật Điện ảnh 2022, nhà nước có nhiệm vụ đầu tư và hỗ trợ các hoạt động điện ảnh sau đây:

- Sản xuất phim với mục đích phục vụ nhiệm vụ chính trị và mang tính lịch sử, cách mạng, tôn vinh lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc, trẻ em, vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam.

- Sáng tác kịch bản phim, phát hành, và phổ biến phim. Cung cấp kinh phí, tổ chức, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật để phổ biến phim ở vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nông thôn. Đồng thời, phục vụ trẻ em, lực lượng vũ trang và các nhiệm vụ chính trị, xã hội, đối ngoại, giáo dục khác.

- Tổ chức các sự kiện như liên hoan phim quốc gia, liên hoan phim quốc tế, liên hoan phim chuyên ngành, chuyên đề, chương trình phim, tuần phim tại Việt Nam. Đồng thời, tổ chức giải thưởng phim và cuộc thi phim cấp quốc gia, quốc tế. Tham gia tổ chức liên hoan phim, chương trình phim, tuần phim Việt Nam tại nước ngoài.

- Nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kịch bản phim, phim có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao để tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu, lưu trữ và phục vụ nhiệm vụ chính trị. Cùng với việc biên tập, dịch, làm phụ đề phim để phục vụ hoạt động giới thiệu đất nước và con người Việt Nam.

- Phát triển hoạt động lý luận, phê bình điện ảnh. Tuyên truyền, giới thiệu và định hướng thẩm mỹ trong lĩnh vực điện ảnh.

- Nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong hoạt động điện ảnh.

- Xây dựng và quảng bá thương hiệu điện ảnh quốc gia.

- Xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất và kỹ thuật, trường quay để phục vụ sản xuất, phát hành, phổ biến, lưu chiểu và lưu trữ phim.

- Xây dựng hệ thống hạ tầng thống kê và cơ sở dữ liệu ngành điện ảnh.

Nhờ vào sự đầu tư và hỗ trợ của nhà nước, ngành điện ảnh Việt Nam sẽ được phát triển và góp phần quảng bá văn hóa, lịch sử và thế mạnh của đất nước thông qua các tác phẩm điện ảnh chất lượng và sáng tạo.

Ngành điện ảnh Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, nghệ thuật của đất nước. Nhờ sự đầu tư và hỗ trợ của nhà nước, ngành điện ảnh đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm gần đây.

Việc sản xuất các bộ phim có nội dung chính trị, lịch sử, cách mạng, tôn vinh các lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc và các giá trị văn hóa Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa văn hóa mà còn góp phần xây dựng và tăng cường nhận thức cộng đồng về lịch sử và truyền thống quốc gia. Các tác phẩm điện ảnh này không chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí mà còn truyền tải thông điệp sâu sắc và ý nghĩa nhân văn. Sự đầu tư và hỗ trợ của nhà nước còn giúp thúc đẩy hoạt động sáng tác kịch bản phim, phát hành và phổ biến phim. Điều này không chỉ khuyến khích sự sáng tạo và đa dạng trong ngành điện ảnh mà còn giúp đẩy mạnh việc phổ biến phim ở các vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nông thôn. Đồng thời, việc phục vụ trẻ em, lực lượng vũ trang và các nhiệm vụ chính trị, xã hội, đối ngoại, giáo dục khác cũng trở thành mục tiêu quan trọng trong hoạt động của ngành điện ảnh.

Xem thêm >> Thành lập và quản lý doanh nghiệp điện ảnh

Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.