- 1. Quy định chung về đối thoại trong quan hệ lao động
- 2. Khái niệm đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
- 3. Phân loại đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
- 3.1 Căn cứ vào chủ thể thực hiện đối thoại
- 3.2 Căn cứ vào cách thức tiến hành đối thoại
- 4. Nội dung đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
- 5. Sự cần thiết của đối thoại trong quan hệ lao động
1. Quy định chung về đối thoại trong quan hệ lao động
Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mối quan hệ lao động mà chỉ điều tiết thông qua pháp luật bằng cách quy định các nguyên tắc, các khung pháp luật tạo hành lang pháp lí làm cơ sở cho sự thoả thuận giữa các bên. Còn quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên chủ yếu do chính các bên tự xác lập và thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn lao động, phù họp với điều kiện và khả năng thực tế của mình. Song, trong quan hệ lao động, do người lao độn luôn phụ thuộc vào người sử dụng lao động về kinh tế và chịu sự quản lí lao động của người sử dụng lao động nên người lao động luôn rơi vào thế bất lợi trong quá trình thoả thuận (mặc cả) các quyền, nghĩa vụ và lợi ích này. Vì thế, nhằm bảo đảm cho các bên dung hoà được một cách lâu dài về quyền và lợi ích, cũng như hạn chế ở mức thấp nhất những mâu thuẫn, bất đồng xảy ra làm ảnh hưởng đến mối quan hệ các bên, cần thiết phải có cơ chế, công cụ họp lí, phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường. Một trong các cơ chế, công cụ điều chỉnh quan hệ lao động phù hợp và hữu hiệu chính là đối thoại xã hội.
Xuất phát từ điều kiện kinh tế, xã hội và quan niệm về quan hệ lao động khác nhau, nên ở các quốc gia, khái niệm đối thoại xã hội được hiểu và sử dụng khác nhau. Cụ thể, về phạm vi nội dung đối thoại xã hội, các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Áo, Phần Lan, Thuỵ Điển, Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Đan Mạch, Hà Lan... cho rằng nội dung của đối thoại xã hội rất rộng, bao gồm bất cứ vấn đề gì về kinh tế, xã hội có liên quan đến quyền và lợi ích của các bên. Trong khi đó, ở các quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển như Philipines, Campuchia... thì nội dung của đối thoại xã hội chỉ bao gồm những vấn đề về lao động và quan hệ lao động, về phạm vi các chủ thể tham gia đối thoại xã hội, hầu hết các quốc gia như Thuỵ Điển, Pháp, Anh, Nhật Bản, Singapore... chỉ thừa nhận tổ chức công đoàn đại diện cho tập thể lao động tham gia đối thoại xã hội; nhung ở các quốc gia như Ai Len, Nam Phi, Áo, Bỉ, Ấn Độ... cho rằng ngoài tổ chức công đoàn, còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội khác. Bên cạnh đó, các quốc gia như Trung Quốc, Campuchia... thừa nhận đại diện của người lao động do người lao động cử ra là chủ thể tham gia đối thoại xã hội. về cấp độ thực hiện đối thoại xã hội, có quốc gia chủ yếu thực hiện đối thoại xã hội ở cấp quốc gia, cấp ngành hoặc cấp khu vực (gọi chung là cấp ngoài doanh nghiệp) như các nước Bắc Âu. Trong khi đó, các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc... chủ yếu đối thoại xã hội ở cấp doanh nghiệp. Ngoài ra, sự khác nhau giữa các quốc gia về khái niệm đối thoại xã hội còn được thể hiện ở một số khía cạnh khác như sự khác nhau trong quan niệm về vai trò của chính phủ (nhà nước) đối với đối thoại xã hội, sự khác nhau về quy định của pháp luật và các thiết chế thực hiện đối thoại xã hội.
2. Khái niệm đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Tổ chức Lao động quốc tế ghi nhận quyền đối thoại xã hội của các bên quan hệ lao động tại Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998. Trên cơ sở khái quát các quá trình và thực tiễn đối thoại xã hội ở các quốc gia, Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra định nghĩa:
“Đối thoại xã hội bao gồm tất cả các hình thức thương lượng, tham vẩn hoặc chỉ đơn giản là sự trao đổi thông tin giữa đại diện của chỉnh phủ, người sử dụng lao động và người lao động về những vẩn đề lợi ích chung liên quan đến các chính sách kinh tế, xã hội’’
Qua định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế, có thể thấy đối thoại xã hội được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như thương lượng, tham vấn (tham khảo ý kiến), trao đổi thông tin. Chủ thể tham gia đối thoại xã hội phải có ít nhất hai trong ba chủ thể, bao gồm đại diện chính phủ, đại diện người lao động và đại diện người sử dụng lao động. Nội dung của đối thoại xã hội có thể là bất cứ vấn đề gì về kinh tế, xã hội liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên.
Như vậy, từ quan điểm của pháp luật quốc tế và nhiều quốc gia, có thể thấy hiện nay đối thoại xã hội trong quan hệ lao động được hiểu và sử dụng ở phạm vi rộng hẹp khác nhau.
Ở phạm vi rộng, đối thoại xã hội trong quan hệ lao động là tổng thể các hình thức tương tác (tác động qua lại lẫn nhau) giữa các chủ thể của quan hệ lao động ở các cấp về những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các bên. Theo phạm vi này, đối thoại xã hội bao gồm các hình thức trao đổi và chia sẻ thông tin, tham vấn, thương lượng giữa hai bên (người lao động và người sử dụng lao động hoặc thông qua đại diện của họ) hoặc ba bên (đại diện người lao động , người sử dụng lao động và nhà nước) hoặc ba bên cộng (ngoài đại diện người lao động , người sử dụng lao động, nhà nước, còn có sự tham gia của chủ thể khác) về các vấn đề chung liên quan mà các bên quan tâm, được thực hiện ở cấp doanh nghiệp và các cấp ngoài doanh nghiệp.
Ở phạm vi hẹp, đối thoại xã hội trong quan hệ lao động được hiểu là sự trao đổi, chia sẻ thông tin và tham vấn (tham khảo ý kiển) tại noi làm việc giữa các bên quan hệ lao động về các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các bên và các vấn đề khác mà các bên quan tâm. Theo phạm vi này, đối thoại xã hội chủ yếu được thực hiện bằng hình thức trao đổi, chia sẻ thông tin và tham khảo ý kiến giữa các bên người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trong doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ lao động.
Tại Việt Nam, khái niệm đối thoại xã hội trong quan hệ lao động được quy định lần đầu tiên trong Luật Công đoàn Việt Nam năm 1990. Theo đó, ở đơn vị sử dụng lao động, pháp luật thừa nhận quyền đối thoại của tập thể lao động với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan, trong trường hợp cần thiết, để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động . Ngoài ra, ở tầm vĩ mô, tổ chức công đoàn có quyền tham gia với nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế-xã hội, cơ chế quản lí kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động .
Tiếp theo Luật Công đoàn năm 1990, BLLĐ năm 1994 đã quy định cụ thể về cơ chế tham khảo ý kiến bắt buộc giữa Chính phủ với công đoàn và đại diện người sử dụng lao động hoặc giữa người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn; và về cơ chế thương lượng, kí kết thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp và cấp ngành (BLLĐ năm 1994 đã quy định về các trường hợp người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến hoặc trao đổi ý kiến với công đoàn cơ sở trước khi ra quyết định về vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động . Đặc biệt là tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động có thể thương lượng và kí kết thoả ước lao động tập thể nhằm bảo đảm các quyền và nghĩa vụ, lợi ích phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị. Ở cấp ngoài doanh nghiệp, hình thức tham vấn chủ yếu được thê hiện trong lĩnh vực tiên lương, như trước khi quyết định và công bố mức lương tối thiểu, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện người sử dụng lao động. Ngoài ra, Bộ luật còn quy định tổ chức công đoàn và bên người sử dụng lao động có thể tiến hành thương lượng để kí kết thoả ước lao động tập thể ngành). Cùng với đó, cuối những năm 1990, một loạt các văn bản được ban hành nhằm triển khai việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở (theo Chỉ thị số 30/CT-TW của Bộ chỉnh trị ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị định số 07/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/02/1999 quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước; Nghị định số 87/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/5/2007 ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn).
Có thể thấy rằng, Luật Công đoàn năm 1990 và BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) đã có nhiều quy định về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động. Song, các quy định này mới chỉ tập trung vào nội dung các bên phải tham khảo ý kiến của nhau mà chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thiết chế thực hiện. Việc tham khảo ý kiến chủ yếu theo vụ việc, chưa có tính thường xuyên. Bởi vậy, hiệu quả đối thoại xã hội mang lại không cao.
Nhằm khắc phục những bất cập trên và nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức đại diện các bên, đặc biệt là vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động, đồng thời nhằm phát huy hơn nữa quyền dân chủ của người lao động , tập thể lao động trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở tại nơi làm việc, BLLĐ năm 2012 đã quy định cụ thể hơn về đối thoại xã hội trong quan hệ lao động. Theo đó, đối thoại xã hội được ghi nhận với nhiều thuật ngữ khác nhau như: đối thoại tại nơi làm việc, trao đổi, tham khảo, đàm phán, thoả thuận, thương lượng tập thể và được thực hiện ở nhiều cấp khác nhau.
Kế thừa các quy định của BLLĐ năm 2012, tại Chương V Bộ luật lao động năm 2019 quy định cụ thể về khái niệm đối thoại tại nơi làm việc. Theo đó, đối thoại tại nơi làm việc được hiểu “là việc chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến giữa người sử dụng lao động với người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động về những vẩn đề liên quan đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của các bên tại nơi làm việc nhằm tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, cùng nô lực hướng tới giải pháp các bên cùng có lợi”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đối thoại tại noi làm việc là một trong các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, được thực hiện nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc bảo đảm quyền dân chủ của người lao động , tổ chức đại diện người lao động trong quan hệ lao động, góp phần cụ thể hoá nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Với quy định về chủ thể, mục đích, phạm vi trong khái niệm đối thoại tại nơi làm việc, cũng như các vấn đề về nội dung đối thoại, cách thức tiến hành đối thoại,... pháp luật đã tạo cơ sở pháp lí cho việc xây dựng, tổ chức, phát triển dân chủ trong quan hệ lao động, thúc đẩy cả người sử dụng lao động, người lao động và tổ chức đại diện người lao động, người sử dụng lao động hoạt động tích cực hơn trong việc trao đổi, thông tin và thực hiện các hình thức dân chủ khác.
3. Phân loại đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Theo pháp luật quốc tế và các quốc gia, có nhiều cách phân loại đối thoại xã hội trong quan hệ lao động. Căn cứ vào hình thức đối thoại xã hội, có các hình thức như: trao đổi và chia sẻ thông tin; tham vấn; thương lượng tập thể. Căn cứ vào chủ thể thực hiện đối thoại xã hội, có các loại: đối thoại xã hội hai bên, đối thoại xã hội ba bên và đối thoại xã hội ba bên cộng. Căn cứ vào các cấp đối thoại xã hội, có các loại: đối thoại cấp doanh nghiệp và đối thoại các cấp ngoài doanh nghiệp. Căn cứ vào tính chất của đối thoại xã hội, có các loại: đối thoại xã hội bắt buộc và đối thoại xã hội tự nguyện;...
Ở Việt Nam, đối thoại tại nơi làm việc được phân loại dựa vào các căn cứ sau đây:
3.1 Căn cứ vào chủ thể thực hiện đối thoại
Căn cứ vào chủ thể thực hiện đối thoại tại nơi làm việc, có thể chia đối thoại tại nơi làm việc thành hai loại: Đối thoại giữa người lao động với người sử dụng lao động và đối thoại giữa tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động.
- Đối thoại giữa người lao động với người sử dụng lao động
Đối thoại giữa người lao động với người sử dụng lao động thông thường xuất phát từ quá trình thực hiện quan hệ lao động cá nhân mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng lao động. Theo đó, các vấn đề đối thoại thông thường liên quan quyền và lợi ích cá nhân người lao động như: công việc phải làm, địa điểm làm việc, tiền lương, thời giờ làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế... hoặc những vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động. Khi được trao đổi, các bên sẽ tìm ra phương án giải quyết tốt nhất, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích, nghĩa vụ các bên trong hợp đồng lao động hoặc các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật, từ đó giúp cho quan hệ lao động được duy trì, ổn định.
- Đối thoại giữa tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng lao động
Tổ chức đại diện người lao động có thể là tổ chức công đoàn hoặc có thể là tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Đối thoại giữa tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động thông thường liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều người lao động được thoả thuận trong thoả ước lao động tập thể, các thoả thuận khác hoặc đã được người sử dụng lao động quy định trong nội quy lao động, quy chế của đơn vị. Bởi vậy, khi các thông tin được cung cấp và trao đổi trực tiếp, các bên sẽ đưa ra cách giải quyết kịp thời, đáp ứng nhu cầu của các bên nhất là bên người lao động, tránh được những ảnh hưởng không cần thiết đến tiến độ công việc, tình hình sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Và đặc biệt, tránh được những bất đồng dẫn đến tranh chấp lao động, đình công làm thiệt hại đến lợi ích của cả hai bên.
3.2 Căn cứ vào cách thức tiến hành đối thoại
Dựa vào căn cứ này, có thể chia đối thoại tại noi làm việc thành ba loại: Đối thoại định kì; đối thoại khi có yêu cầu của một hoặc các bên; và đối thoại theo vụ việc.
- Đối thoại định kì
Đối thoại định kì là đối thoại bắt buộc phải được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Theo quy định, đối thoại định kì do người sử dụng lao động chủ trì, phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, được thực hiện ít nhất 01 năm một lần để trao đổi, thảo luận các nội dung mà pháp luật quy định hoặc những vấn đề mà các bên đã thoả thuận hoặc phát sinh trong quá trình thực hiện quan hệ lao động tại nơi làm việc.
- Đối thoại khi có yêu cầu của một hoặc các bên
Đối thoại khi có yêu cầu của một hoặc các bên được thực hiện khi một hoặc các bên, người lao động hoặc tổ chức đại diện người lao động hoặc/và người sử dụng lao động có yêu cầu đối thoại. Trong thời hạn quy định, khi nhận được nội dung yêu cầu đối thoại, người sử dụng lao động có trách nhiệm chủ trì phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để tổ chức đối thoại.
- Đối thoại theo vụ việc
Đối thoại theo vụ việc được thực hiện khi trong đơn vị sử dụng lao động xảy ra vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích các bên mà các bên phải giải quyết. Ví dụ việc xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động; việc xây dựng phương án sử dụng lao động khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ; việc xây dựng quy chế thưởng; việc tạm đình chỉ công việc của người lao động ;... Những việc này nếu không được giải quyết thống nhất, kịp thời sẽ dễ dẫn đến bất đồng, tranh chấp. Bởi vậy, nếu xảy ra các vụ việc này, các bên bắt buộc phải tiến hành đối thoại.
4. Nội dung đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Nội dung đối thoại xã hội trong quan hệ lao động bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích của các bên hoặc các lợi ích khác được các bên chủ thể chia sẻ thông tin, tham khảo, thảo luận, trao đổi ý kiến.
Trên thế giới, nội dung đối thoại xã hội được pháp luật đề cập khác nhau ở các quốc gia. Thông thường, ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, có truyền thống dân chủ với sự tham gia của các đối tác xã hội vào quá trinh hoạch định và thực hiện chính sách pháp luật thì nội dung đối thoại xã hội thường rộng, có thể là bất kì nội dung nào về kinh tế, xã hội liên quan đến quan hệ lao động hoặc vấn đề mà các bên quan tâm. Ví dụ, các chính sách chung về kinh tế, xã hội; chương trình cải cách luật lao động; chính sách tiền lương, bao gồm cả việc ấn định mức lương tối thiểu; tăng năng suất lao động; an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp; đào tạo nghề và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chính sách an sinh xã hội;... Trong khi đó, ở những quốc gia kinh tế thị trường chưa phát triển thì nội dung của đối thoại xã hội thường chỉ giới hạn trong những vấn đề về lao động và quan hệ lao động, như: xác định tiền lương, bao gồm cả mức lương tối thiểu, điều kiện lao động, chính sách thị trường lao động, giải quyết tranh chấp lao động,... Tuy nhiên, trong thực tế, việc xác định các vấn đề về lao động và các vấn đề về kinh tế, xã hội nói chung chỉ mang tính chất tương đối. Có những vấn đề vừa được xem là chính sách lao động, đồng thời cũng là vấn đề kinh tế xã hội, ví dụ xác định lương tối thiểu. Song cũng có những vấn đề được xem là chính sách kinh tế như các chương trình cải cách và tái cấu trúc nền kinh tế, cũng lại là nội dung của đối thoại xã hội bởi nội dung này có ảnh hưởng tới lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động.
Tổ chức Lao động quốc tế với tư cách là tổ chức đóng vai trò thúc đẩy, phổ biến và hướng dẫn về đối thoại xã hội, đã nêu nhiều vấn đề thuộc nội dung đối thoại xã hội trong các công ước và khuyến nghị của mình. Theo đó, Tổ chức này luôn nhấn mạnh rằng, chủ đề của đối thoại xã hội có thể là bất cứ vấn đề nào về kinh tế, xã hội được chính phủ và các đối tác xã hội cùng quan tâm.
Trên cơ sở quy định của Tổ chức Lao động quốc tế, pháp luật Việt Nam quy định nội dung đối thoại thông thường là các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của các bên phát sinh trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Bởi, người sử dụng lao động khi tham gia quan hệ lao động là nhằm hướng đến mục đích doanh thu, lợi nhuận. Để đạt được mục đích này, họ đặt ra các yêu cầu, quy định các nguyên tắc để buộc người lao động phải tuân theo. Còn bên người lao động , mục đích của việc “bán” sức lao động là nhằm mang lại thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời trong quá trình lao động họ phải luôn được bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi... Các đối quyền và nghĩa vụ, lợi ích này là những vấn đề dễ xảy ra bất đồng, tranh chấp nên cần phải bảo đảm sự đồng thuận hoặc chấp nhận với thái độ hoà bình. Bởi vậy, nếu các nội dung này được bàn bạc, ưao đổi và cùng đưa ra cách giải quyết thoả đáng thì không chỉ dễ dàng điều hoà, giải quyết các mối quan tâm chung mà còn hoá giải được các mâu thuẫn, xung đột tiềm ẩn.
Theo quy định tại Điều 64 BLLĐ năm 2019, nội dung đối thoại tại nơi làm việc bao gồm các nội dung bắt buộc và nội dung lựa chọn. Các nội dung đối thoại bắt buộc thông thường là các vụ việc theo quy định, như: xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động; xây dựng quy chế thưởng, xây dựng nội quy lao động;... Ngoài những nội dung bắt buộc, các bên lựa chọn một hoặc một số nội dung để tiến hành đối thoại, như: tình hình sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động; việc thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và cam kết, thoả thuận khác tại nơi làm việc; điều kiện làm việc; yêu cầu của người lao động , tổ chức đại diện người lao động đối với người sử dụng lao động; yêu cầu của người sử dụng lao động với người lao động , tổ chức đại diện người lao động; nội dung khác mà một hoặc các bên quan tâm.
5. Sự cần thiết của đối thoại trong quan hệ lao động
Lợi ích của đối thoại với tổ chức công đoàn
- Tăng cường thông tin, hiểu biết giữa người lao động, người sử dụng lao động
- Dự báo vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và giải quyết vấn đề vướng mắc, tồn tại
- Hiểu biết hơn về các bên tham gia đối thoại
- Được sự công nhận, tin tưởng của người sử dụng lao động và người lao động
- Khẳng định vai trò và vị trí của tổ chức công đoàn
Lợi ích của đối thoại với người sử dụng lao động
- Tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Xem lại các vấn đề về sản xuất kinh doanh, chất lượng của sản phẩm, yêu cầu của khách hàng, sức cạnh tranh của sản phẩm
- Nhận biết được ưu điểm, nhược điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lập kế hoạch, thời gian, vị trí làm việc đối với người lao động hợp lý
- Không bị vướng vào các vấn đề giải quyết quan hệ lao động
- Tăng cường chia sẻ lợi ích, thông tin với người lao động
- Xác lập trách nhiệm rõ ràng đối với người lao động
- Thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Lợi ích của đối thoại với người lao động
- Ổn định được việc làm, thu nhập và điều kiện làm việc;
- Được tôn trọng và phát huy khả năng, sáng kiến, sáng tạo;
- Được đảm bảo về BHXH, BHYT;
- Được giúp đỡ, động viên, hỗ trợ…
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực pháp luật lao động, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn. Trân trọng./.