1. Quy định pháp luật về quyền tác giả như thế nào?
Căn cứ vào Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác giả và chủ sở hữu được cấp quyền bảo hộ tác giả, bao gồm những điểm sau đây:
- Tổ chức và cá nhân có tác phẩm được bảo hộ tác giả bao gồm người trực tiếp sáng tạo sản phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả.
- Quyền tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm tổ chức và cá nhân Việt Nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ quốc gia nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu tại quốc gia khác, và tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo các hiệp định quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), quyền tác giả là quyền của tổ chức và cá nhân đối với tác phẩm mà họ sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (khoản 1 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019).
Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
- Đặt tên cho tác phẩm.
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
- Làm tác phẩm phái sinh.
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng.
- Sao chép tác phẩm.
- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.
- Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác.
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính (Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019).
2. Đối tượng nào được bảo hộ quyền tác giả?
Theo quy định tại khoản 2, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền tác giả là quyền của tổ chức và cá nhân đối với tác phẩm do họ sáng tạo hoặc sở hữu.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
- Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học:
+ Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và các tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác.
+ Bài giảng, bài phát biểu và các bài nói khác.
+ Tác phẩm báo chí.
+ Tác phẩm âm nhạc.
+ Tác phẩm sân khấu.
+ Tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm tương tự.
+ Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng.
+ Tác phẩm nhiếp ảnh.
+ Tác phẩm kiến trúc.
+ Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học.
+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
+ Chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu.
- Các tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm gốc, theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 15 Luật sở hữu trí tuệ, vẫn có một số ngoại lệ, vì tính chất đặc biệt và cần được phổ biến rộng rãi, nên các đối tượng sau không được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm:
- Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin.
- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.
- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
Từ đó, có thể thấy rằng không phải tất cả các đối tượng đều được bảo hộ quyền tác giả theo quy định trên.
3. Các đối tượng có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) quy định về tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được bảo hộ quyền tác giả gồm có:
(1) Tổ chức và cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả theo các điều từ Điều 37 đến Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), được xác định như sau:
- Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả của tác phẩm.
- Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là các đồng tác giả của tác phẩm.
- Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là tổ chức hoặc cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc ký kết hợp đồng với tác giả.
- Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật về di sản.
- Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là người được chuyển giao quyền từ chủ sở hữu ban đầu.
- Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là Nhà nước, trong trường hợp tác phẩm được sáng tạo trong phạm vi nhiệm vụ công việc và công nghiệp, hoặc là tác phẩm được sáng tạo bởi những người làm việc trong bộ máy Nhà nước hoặc theo sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước.
(2) Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại (1) bao gồm:
- Tổ chức và cá nhân Việt Nam.
- Tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ quốc gia nào khác hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở một quốc gia khác.
- Tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo các điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Như vậy, đây là quy định về đối tượng và phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019).
4. Quyền tác giả và bản quyền khác nhau như thế nào?
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ "quyền tác giả" thường được gọi là "bản quyền," và không có sự khác biệt đáng kể giữa hai thuật ngữ này. Mặc dù cả hai đều là khái niệm dùng để chỉ các quyền của tác giả và chủ sở hữu đối với tác phẩm, nhưng có người gọi là "quyền tác giả," có người gọi là "bản quyền." Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật chính thức của Việt Nam như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, thuật ngữ "quyền tác giả" là thuật ngữ chính thức được sử dụng.
Liên quan đến việc sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" và "bản quyền," trên thế giới hiện nay, mặc dù các pháp luật về quyền tác giả của các quốc gia tương đối tương đồng, bao gồm các quy định về đối tượng bảo hộ quyền tác giả, các quyền của tác giả và chủ sở hữu đối với tác phẩm, thời hạn bảo hộ quyền tác giả,... nhưng có những nước sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" (author's right) như Pháp, và một số nước khác như Anh, Mỹ sử dụng thuật ngữ "bản quyền" (copyright).
Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" và thuật ngữ "bản quyền" có sự khác biệt cơ bản về cơ sở hình thành, liên quan đến sự khác biệt giữa hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh-Mỹ. Các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (ví dụ như Pháp) sử dụng thuật ngữ "quyền tác giả" xuất phát từ quan điểm gắn chặt mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm, tập trung vào việc bảo hộ quyền của tác giả, đặc biệt là các quyền tinh thần của người sáng tạo tác phẩm. Các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ sử dụng thuật ngữ "bản quyền" xuất phát từ khía cạnh thương mại, nhấn mạnh quyền sao chép, nhân bản tác phẩm, tập trung vào giá trị kinh tế của tác phẩm, chứ không phải quan tâm đến quyền tinh thần của tác giả.
Mời quý khách tham khảo thêm bài viết: Đối tượng nào không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả ?. Nếu còn vướng mắc về quy định pháp luật, quý khách hàng có thể liên hệ đến hotline hỗ trợ trực tuyến 19006162 hoặc liên hệ đến email: lienhe@luatminhkhue.vn