1. Hộ thiếu đói được hỗ trợ gì trong dịp Tết Nguyên đán?

Thông qua khoản 1 Điều 12 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, đã quy định rõ về chính sách hỗ trợ lương thực và nhu yếu phẩm từ nguồn ngân sách nhà nước, đặc biệt tập trung vào những gia đình đang gặp khó khăn, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán.

Theo đó, các hộ gia đình thuộc diện thiếu đói sẽ được hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong khoảng thời gian 01 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ, đặc biệt là trong dịp Tết âm lịch. Biện pháp này được thiết kế nhằm đảm bảo rằng những hộ gia đình khó khăn nhất có thể trải qua một kỳ nghỉ Tết ấm cúng, đầy đủ lương thực cần thiết để tổ chức các buổi lễ truyền thống.

Quy định cụ thể rằng hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng sẽ được triển khai trong 01 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ, nhấn mạnh vào dịp Tết Nguyên đán để mang lại sự ổn định và an ủi tinh thần cho những người gặp khó khăn. Điều này không chỉ giúp chúng có thêm nguồn lương thực mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho họ để tận hưởng niềm vui của kỳ nghỉ truyền thống.

Ngoài ra, quy định còn đề cập đến việc hỗ trợ không vượt quá 3 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ đối với đối tượng thiếu đói do các tình huống như thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt, hoặc các lý do bất khả kháng khác. Điều này nhấn mạnh cam kết của Chính phủ trong việc hỗ trợ ổn định và liên tục, nhằm giúp người dân vượt qua những khó khăn tạm thời và tái lập cuộc sống.

Nguồn lực cho chương trình này được kỳ vọng sẽ đến từ nguồn ngân sách nhà nước, địa phương, và nguồn dự trữ quốc gia. Điều này phản ánh cam kết toàn diện của cả hệ thống chính trị trong việc đối phó với tình trạng thiếu đói và khó khăn trong cộng đồng, đặc biệt là trong bối cảnh những thách thức từ thiên tai và tình trạng khẩn cấp khác.

Tóm lại, quy định này không chỉ là một biện pháp hỗ trợ ngắn hạn, mà còn là một chiến lược đặc biệt hữu ích để giúp cộng đồng vượt qua những thời kỳ khó khăn và đảm bảo rằng không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình xây dựng một xã hội công bằng và phồn thịnh

 

2. Có bắt buộc phải báo cáo khi kết thúc đợt trợ giúp xã hội?

Theo điểm i, khoản 3, Điều 12 Nghị định 20/2021/NĐ-CP về hỗ trợ lương thực và nhu yếu phẩm từ nguồn ngân sách nhà nước, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm báo cáo khi kết thúc đợt hỗ trợ trợ giúp xã hội đối với các đối tượng thuộc hộ thiếu đói trong dịp Tết Nguyên Đán. Quy định này nhấn mạnh sự quan trọng của việc đảm bảo minh bạch và theo dõi hiệu quả của chương trình hỗ trợ trong việc giúp đỡ những người gặp khó khăn, đặc biệt là trong mùa lễ quan trọng như Tết Nguyên Đán.

Quy trình báo cáo được mô tả rõ trong Nghị định. Ban đầu, Trưởng thôn hoặc đại diện cấp dưới tạo danh sách hộ gia đình và số người thiếu đói, thiếu nhu yếu phẩm cần hỗ trợ. Sau đó, danh sách này được xem xét và hoàn thiện tại cấp xã, và sau đó gửi lên cấp huyện. Trong vòng 02 ngày từ ngày nhận được đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét và quyết định cứu trợ ngay những trường hợp cấp thiết. Trong trường hợp thiếu nguồn lực, đề nghị trợ giúp được gửi đến cấp trên để xem xét và quyết định tiếp theo.

Tiếp theo, quá trình này lặp lại từ cấp huyện lên cấp tỉnh, và cuối cùng đến Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng với Bộ Tài chính. Mọi quyết định cần được thẩm định và quyết định tại từng cấp, đồng thời cần bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong quá trình xem xét và quyết định.

Sau khi nhận được hỗ trợ, Ủy ban nhân dân các cấp phải tổ chức thực hiện ngay việc trợ giúp cho đối tượng theo quy định, đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và đến đúng đối tượng cần hỗ trợ.

Khi kết thúc mỗi đợt hỗ trợ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo kết quả hỗ trợ. Điều này là quy trình quan trọng để đánh giá hiệu suất của chương trình, từ đó có thể đưa ra các điều chỉnh và cải thiện để tối ưu hóa công dụng và đạt được mục tiêu chính sách.

Vậy nên, dựa vào quy định tại Điều 12 Nghị định 20/2021/NĐ-CP, có thể khẳng định rằng Ủy ban nhân dân có nghĩa vụ báo cáo khi kết thúc đợt hỗ trợ trợ giúp xã hội đối với các đối tượng thuộc hộ thiếu đói trong dịp Tết Nguyên Đán, nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của chính sách hỗ trợ này

 

3. Kinh phí thực hiện trợ giúp khẩn cấp theo quy định

Theo điểm b, khoản 1 Điều 32 Nghị định 20/2021/NĐ-CP về kinh phí thực hiện trợ giúp khẩn cấp, Ủy ban nhân dân có thể nhận tiền từ thiện của các cá nhân để làm nguồn kinh phí thực hiện trợ giúp khẩn cấp. Quy định này cho phép Ủy ban nhân dân tự chủ trong việc huy động nguồn kinh phí để đối phó với tình trạng khẩn cấp, đặc biệt là khi có thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh gây thiệt hại nặng và nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương không đủ để thực hiện trợ giúp.

Điều này có nghĩa là Ủy ban nhân dân có thể chủ động tiếp nhận sự đóng góp từ thiện của cá nhân để sử dụng làm nguồn kinh phí thực hiện các biện pháp trợ giúp khẩn cấp. Các cá nhân hoặc tổ chức từ trong và ngoài nước có thể trực tiếp hỗ trợ cho địa phương thông qua Ủy ban nhân dân, giúp tăng cường nguồn lực và khả năng đối phó với tình hình khẩn cấp.

Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng nguồn kinh phí này, Ủy ban nhân dân cần tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện báo cáo chính xác và đầy đủ khi cần thiết. Ngoài ra, trong trường hợp khẩn cấp lớn, khi nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương không đủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể báo cáo lên cấp trên như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia và Bộ Tài chính để đề xuất hỗ trợ hàng hóa từ nguồn dự trữ quốc gia.

Tóm lại, quy định này mang lại khả năng linh hoạt và tự chủ cho Ủy ban nhân dân trong việc quản lý và sử dụng nguồn kinh phí từ thiện để đối phó với tình trạng khẩn cấp, nhằm đảm bảo rằng người dân được hỗ trợ một cách nhanh chóng và hiệu quả

 

4. Quy trình hỗ trợ được thực hiện hỗ trợ cho hộ thiếu đói

Quy trình hỗ trợ được thực hiện theo các bước chi tiết như sau:

- Lập danh sách: Trưởng thôn, bản, phum, sóc, ấp, cụm, khóm, tổ dân phố (Trưởng thôn) chịu trách nhiệm lập danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình cần hỗ trợ, đồng thời ghi rõ thông tin về thiếu đói, thiếu nhu yếu phẩm thiết yếu theo các Mẫu số 5a và 5b được ban hành kèm theo Nghị định.

- Xem xét và hoàn thiện: Trưởng thôn hợp tác với đại diện của các tổ chức có liên quan để xem xét các trường hợp và hoàn thiện danh sách. Sau đó, họ gửi danh sách này đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Xem xét và quyết định cứu trợ: Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét và quyết định cứu trợ ngay những trường hợp cấp thiết. Trong trường hợp thiếu nguồn lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lập văn bản đề nghị trợ giúp và gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Thẩm định và quyết định cấp huyện: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định về việc hỗ trợ.

- Xem xét và quyết định cấp tỉnh: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét và quyết định hỗ trợ. Trong trường hợp thiếu nguồn lực, có văn bản đề nghị trợ giúp được gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính.

- Phối hợp và tổng hợp: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ngành liên quan để tổng hợp thông tin. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét và quyết định. Trong trường hợp thiếu nguồn lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính.

- Tổng hợp nhu cầu và báo cáo: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia để tổng hợp nhu cầu hỗ trợ từ các địa phương. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ và gửi Bộ Tài chính thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định xuất cấp hàng dự trữ quốc gia.

- Thực hiện trợ giúp: Khi nhận được hỗ trợ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện ngay việc trợ giúp cho đối tượng, đảm bảo rằng quá trình này tuân thủ đúng theo quy định.

-Tổng hợp và báo cáo kết quả: Kết thúc mỗi đợt hỗ trợ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo kết quả hỗ trợ. Điều này giúp đánh giá hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ và làm cơ sở cho việc điều chỉnh và cải thiện quy trình trong tương lai

Bài viết liên quan: Chi tiết Danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói, nhu yếu phẩm

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết liên quan cùng chủ đề như: Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Mọi vướng mắc liên quan đến các quy định pháp luật vui lòng trao đổi trực tiếp với Công ty Luật Minh Khuê thông qua số: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.