Căn cứ vào đỉểm e khoản 1 và khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019, nếu người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên thì người sử dụng lao động được quyềnđơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải báo trước.
Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 thì đây là nội dung hoàn toàn mới của Bộ luật Lao động năm 2019.
Việc quy định như trên sẽ giúp người sử dụng lao động thuận tiện loại bỏ những người lao động không tuân thủ quy định của người sử dụng lao động; cũng như góp phần nâng cao ý thức, tính chuyên nghiệp trong công việc của người lao động, từ đó tăng được hiệu suất lao động, có lợi cho người sử dụng lao động và người lao động.
Luật Minh Khuê phân tích và giải đáp một câu hỏi thực tiễn liên quan đến vấn đề trên như sau:
Câu hỏi: Thưa Luật Minh Khuê, công ty chúng tôi đang có một vướng mắc về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động muốn được sự hỗ trợ tư vấn từ Luật Minh Khuê, vấn đề của công ty chúng tôi như sau: Công ty chúng tôi ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với chị A, vào ngày 08/01/2023 thì chị A có xin công ty nghỉ việc 1 ngày với lý do là mình có việc cá nhân (trường hợp này là xin nghỉ việc không hưởng lương), công ty đã duyệt cho chị A nghỉ việc vào ngày 08/01/2023, tuy nhiên sau ngày 08/01/2023 chị A vẫn không tiếp tục đến công ty làm việc. Đến thời điểm hiện tại chị A cũng vẫn không đến công ty làm việc, bộ phận nhân sự của công ty cũng đã liên hệ rất nhiều lần với chị A để hỏi lý do nhưng chị A cũng không cung cấp bất cứ lý do gì cho công ty.
Nay công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với chị A, vậy cho tôi hỏi công ty tôi có quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị A không và việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị A thì công ty tôi phải trả những khoản gì cho chị A?
Rất mong nhận được sự hỗ trợ từ Công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Luật sư tư vấn:
Trước tiên, Công ty Luật Minh khuê xin gửi lời cảm ơn đến Quý khách hàng vì đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Với những nội dung mà Quý khách hàng đã cung cấp cho chúng tôi, Công ty Luật Minh Khuê xin phép được tư vấn nội dung này, cụ thể như sau:
1. Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?
Bộ luật lao động hiện hành quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động khi thuộc bảy trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019. Khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động này thì người sử dụng lao động phải đáp ứng được có căn cứ để chứng minh người lao động thuộc một trong bảy lý do mà người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 và phải đáp ứng được thời gian báo trước cho người lao động biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động này theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019.
Theo quy định nêu trên thì trường hợp người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng năm ngày làm việc liên tục trở lên thuộc một trong bảy trường hợp người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động. Khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 cũng quy định đối với trường hợp người sử dụng lao động có căn cứ về việc người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ năm ngày làm việc liên tục trở lên thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước cho người lao động.
Mặt khác Bộ luật lao động quy định những trường hợp nghỉ việc được coi là có lý do chính đáng bao gồm các trường hợp:
- Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn;
- Trường hợp do bản thân người lao động, thân nhân của người lao động bị ốm và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Các lý do khác mà đã được quy định trong nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Như vậy: Dựa trên thông tin mà Quý khách hàng đã cung cấp thì chị A là người lao động của công ty, sau thời gian xin nghỉ việc không hưởng lương chị A đã không quay lại công ty làm việc từ ngày 09/01/2023 đến ngày 16/01/2023 (thời gian này đã trên 5 ngày làm việc liên tục) mà không có lý do gì gửi đến công ty. Khi công ty liên hệ thì chị A cũng không đưa ra được lý do chính đáng về việc nghỉ việc của mình. Do đó công ty bạn hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị A theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 và trước khi chấm dứt hợp đồng lao động với chị A thì công ty bạn cũng không có trách nhiệm phải báo trước cho chị A theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019.
2. Công ty phải chỉ trả những khoản tiền gì khi chấm dứt hợp đồng lao động
Như đã phân tích ở trên thì công ty bạn hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị A, việc chấm dứt hợp đồng này là trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật và thuộc các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 10 Điều 34 Bộ luật lao động năm 2019. Do trường hợp chấm dứt này là chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật vậy nên sẽ công ty sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động, mà khi chấm dứt hợp đồng thì công ty bạn sẽ chỉ phải chi trả những khoản tiền sau:
- Chi trả tiền lương cho những ngày làm việc chưa trả
Đối với trường hợp công ty chưa chi trả hết phần tiền lương cho những ngày làm việc của người lao động, thì công ty sẽ phải có trách nhiệm chi trả phần tiền lương cho người lao động cho những ngày làm việc này.
- Chi trả trợ cấp thôi việc
Điều 46 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định khi hợp đồng lao động chấm dứt thuộc các trường hợp:
- Hết hạn hợp đồng lao động;
- Người lao động đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
- Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động;
- Người lao động của công ty bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại Khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, người lao động bị kết án tử hình hoặc bị cấm làm công việc được ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
- Người lao động chết, người lao động bị Tòa án tuyến bố mất năng lực hình vi dân sự, người lao động bị Tòa án tuyên bố là mất tích hoặc tuyên bố là đã chết;
- Người sử dụng lao động là cá nhân bị chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, tuyên là mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị các cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo là không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật;
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019;
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019;
Và người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên. Thời gian làm việc để làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là lấy tổng thời gian làm việc thực tế của người lao động trừ đi thời gian người lao động đã được người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Cứ một năm làm việc thì người lao động sẽ được hưởng một nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, mức lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là mức bình quân tiền lương của 06 tháng liên kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động nghỉ việc. Thời gian làm việc thực tế của người lao động và thời gian người lao động đã được người sử dụng lao động tham gia trợ cấp thất nghiệp được hướng dẫn cụ thể tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP.
- Tiền phép năm cho những ngày chưa được nghỉ
Khoản 3 Điều 113 Bộ luật lao động năm 2019 quy định đối với trường hợp người lao động do thôi việc hoặc người lao động bị mất việc làm mà người lao động chưa được nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì người lao động sẽ được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày người lao động chưa được nghỉ.
Khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động năm 2019 quy định trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động thì trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động thì cả người sử dụng lao động và người lao động sẽ phải có trách nhiệm thanh toán cho nhau đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Trừ trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động; trường hợp người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; trường hợp người sử dụng lao động thực hiện thủ tục chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm thì có thể kéo dài thời gian thanh toán nhưng không được quá 30 ngày.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động tự ý nghỉ việc không có lý do chính đáng từ năm ngày làm việc liên tục trở lên. Trường hợp Quý khách hàng còn bất cứ vướng mắc gì về nội dung đã được nêu ở trên Quý khách hàng có thể vui lòng liên hệ trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài, gọi ngay số: 1900.6162 để được hỗ trợ trực tiếp. Rất mong nhận được sự hợp tác của Quý khách hàng. Trân trọng!