>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động, gọi:  1900.6162

 

Luật sư tư vấn:

1. Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người lao động

Căn cứ quy định pháp luật tại Điều 5 Bộ luật lao động năm 2019 thì người lao động sẽ có các quyền sau đây:

- Người lao động có quyền làm việc,  tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp; và không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động hay quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

- Người lao động được hưởng lương phù hợp với trình độ và kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; Được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn, vệ sinh lao động; Được nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm mà có hưởng lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

- Người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động trong các tổ chức đại diện người lao động, tổ chức nghề nghiệp và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật; Yêu cầu và tham gia đối thoại, thực hiện quy chế dân chủ, thương lượng tập thể với người sử dụng lao động và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của chính bản thân mình; Tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

- Người lao động từ chối làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng hay sức khỏe trong quá trình thực hiện công việc.

Đồng thời thì người lao động cũng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, có quyền đình công và các quyền khác theo quy định của pháp luật về lao động.

Song song với quyền lợi thì người lao động cũng sẽ có các nghĩa vụ tương ứng: Người lao động phải thực hiện hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác theo đúng quy định của pháp luật; Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động và tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Người lao động cũng phải thực hiện các quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn vệ sinh lao động. 

 

2. Người lao động tự ý bỏ việc có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp? 

Tự ý bỏ việc Theo quy định của pháp luật thì được hiểu là người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không đúng với quy định của pháp luật là khi vi phạm về thời hạn báo trước theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019 cụ thể như sau:

- Người lao động phải báo ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

- Người lao động khai thông báo trước với người sử dụng lao động về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 30 tháng;

- Trường hợp người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng thì khi người lao động muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải thông báo trước ít nhất 03 ngày làm việc.

Đối với các ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần phải báo trước cho người sử dụng lao động: 

- Khi người lao động không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận của cả hai bên trừ các trường hợp theo quy định của pháp luật. Khi người sử dụng lao động chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh,... Áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc do nhu cầu sản xuất kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được phép quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp cho người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản. Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội qui lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động theo quy định thì người sử dụng lao động phải báo cho người lao động trước ít nhất 03 ngày làm việc và thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động. Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu như tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì sẽ được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Trường hợp người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngưng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo đúng quy định của pháp luật.

- Khi người lao động không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn trừ các trường hợp theo quy định: Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được phép trả chậm quá 30 ngày; Nếu trả chậm lương từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đem vô cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng cho ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương;

- Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước với người sử dụng lao động khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hay bị cưỡng bức lao động;

- Người lao động cũng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bị quay rối tình dục tại nơi làm việc;

- Khi người lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định: Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi thì sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

- Người lao động khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật thì sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trừ các trường hợp mà các bên có thỏa thuận khác;

- Người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin không trung thực theo quy định làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động thì người lao động cũng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động mà không cần thông báo trước. 

 

3. Người lao động tự ý bỏ việc thì có được thanh toán tiền lương? 

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì việc người lao động tự ý bỏ việc chính là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 40 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với quy định sẽ có nghĩa vụ không được nhận trợ cấp thôi việc; Đồng thời phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không thông báo trước; Và phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo theo quy định nếu như hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc ở nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động thì người lao động sẽ phải hoàn trả cho người sử dụng lao động những kinh phí đào tạo đó.

Như vậy, trong trường hợp của bạn người lao động tự ý nghỉ việc thì số tiền mà người lao động đó sẽ không được nhận lương. Cụ thể người lao động đó đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định: sẽ phải bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và không được nhận trợ cấp thôi việc. Nếu như vi phạm về thời hạn báo trước cụ thể: người lao động ký kết hợp đồng lao động có xác định thời hạn 01 năm thì phải báo trước ít nhất 30 ngày. Trường hợp không báo trước thì phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước đó. Nếu như người lao động được người sử dụng lao động phân đi học tập và đào tạo thêm vì kỹ năng nghề nghiệp thì sẽ phải bồi thường chi phí đào tạo nếu có. 

Trên đây là tư vấn mà công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc hay câu hỏi pháp lý khác thì vui lòng liên hệ trực tiếp đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 qua số hotline1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!