- 1. Đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ là gì?
- 3. Phân loại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
- 2.1 Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ
- 2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
- 4. So sánh giữa đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ và hủy bỏ hợp đồng
- 5. Mẫu văn bản đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ
- VĂN BẢN ĐƠN PHƯƠNG ĐÌNH CHỈ THỰC HIỆN
- HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN
- Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)
1. Đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ là gì?
Đơn phương đình chỉ nghĩa vụ tức là ngừng, thôi không tiếp tục thực hiện việc mà trước đó đã làm và phải làm như ngừng, không tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã kí kết, cung cấp vật tư cho một công trình đang xây dựng hoặc thôi, không tự hạn chế mình trong công việc không được làm các việc trước đó, theo hợp đồng đã kí kết, bị cấm, không được làm, như một người ở nhà thuê, theo hợp đồng đã kí kết chỉ được ở, nhưng có nghĩa vụ duy trì nhà ở nguyên trạng, không được tự tiện nâng tầng, trổ cửa, thay đổi kiến trúc bên trong của nhà thì khi đơn phương đình chỉ nghĩa vụ là không còn tự bó buộc mình phải giữ gìn nguyên trạng nhà ở thuê nữa.
2. Quy định chung về đơn phương đình chỉ nghĩa vụ
Trong thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo quy định của pháp luật, không chỉ bên có quyền mà cả bên có nghĩa vụ, trong những trường hợp do có thoả thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định, đều có quyển đơn phương thực hiện hợp đồng, bên có nghĩa vụ đơn phương thực hiện nghĩa vụ, như trong thực hiện nghĩa vụ cung cấp vật tư xây dựng, bên có nghĩa vụ cung cấp có quyền đơn phương thực hiện nghĩa vụ cung cấp, nếu bên công trình thường xuyên chậm trễ, không thanh toán tiền vật tư đã được cung cấp, trái hẳn với sự thoả thuận trong hợp đồng. Nhưng khi đơn phương đình chỉ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ phải báo trước trong một thời gian hợp lí cho bên kia biết quyết định của mình. Đồng thời, pháp luật cũng quy định rất nghiêm kỉ luật hợp đồng. Khi bên có nghĩa vụ tuỳ tiện đơn phương đình chỉ nghĩa vụ không có một cơ sở pháp lí nào, gây cho bên đối tác những thiệt hại vật chất thì phải bồi thường thiệt hại gây ra và có khi còn bị xử lí theo pháp luật.
3. Phân loại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự với người có quyền. Tuy nhiên, nếu sự vi phạm này chưa gây ra thiệt hại thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Mặt khác, nếu sự vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại cho người bị vi phạm thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Vì vậy, tuỳ thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà trách nhiệm dân sự này được phân thành hai loại sau đây:
2.1 Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ
Với trách nhiệm này, người vi phạm nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên kia. Nếu bên có quyền đã yêu cầu mà bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện thì bên có quyền có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ.
Loại trách nhiệm này bao gồm:
- Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 356 Bộ luật dân sự năm 2015);
- Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc (Điều 358 Bộ luật dân sự năm 2015);
- Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 355 Bộ luật dân sự năm 2015).
2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại. Mặt khác, một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm bồi thương thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ phải dựa trên các cơ sở sau đây:
- Có hành vi trái pháp luật
Là một loại trách nhiệm pháp lí, cho nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có hành vi trái pháp luật và chỉ áp dụng với người có hành vi đó. về nguyên tắc, một người có nghĩa vụ mà không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đó thì bị coi là vi phạm pháp luật về nghĩa vụ. Vì chính nghĩa vụ đó là do pháp luật xác định hoặc do các bên thoả thuận, cam kết nhưng đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, ưong một số trường hợp không thực hiện nghĩa vụ không bị coi là trái pháp luật. Vì vậy, người không thực hiện nghĩa vụ không phải bồi thường thiệt hại:
+ Nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người có quyền;
+ Nghĩa vụ không thể thực hiện được do sự kiện bất khả kháng. Một sự kiện chỉ được coi là bất khả kháng nếu đó là sự kiện khách quan làm cho người có nghĩa vụ không biết trước và cũng không thể tránh được. Người có nghĩa vụ không thể khắc phục được khó khăn do sự kiện đó gây ra dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép.
- Có thiệt hại xảy ra trong thực tế
Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người có nghĩa vụ phải bù đắp cho phía bên kia những tổn thất vật chất mà mình đã gây ra do việc vi phạm nghĩa vụ. Vì vậy, việc xác định có thiệt hại xảy ra hay không, thiệt hại bao nhiêu là việc làm cần thiết và hểt sức quan trọng khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thiệt hại là sự biến đổi theo chiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những tổn thất thực tế tính được thành tiền mà người đó phải gánh chịu.
Trong thực tế, thiệt hại xảy ra do vi phạm nghĩa vụ bao gồm: những tài sản bị mất mát hoặc bị huỷ hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút giá trị về tài sản, những chi phí mà người bị vi phạm phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những hậu quả do người vi phạm nghĩa vụ gây ra, những tổn thất do thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.
Về mặt lí luận, người ta chia những thiệt hại nói trên thành hai loại:
- Những thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan trong thực tế mà mức thiệt hại dễ dàng xác định được như:
+ Chi phí thực tế và họp lí: Là những khoản tiền hoặc những lợi ích vật chất khác mà người bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục những tình ttạng xấu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia gây ra;
+ Tài sản bị hư hỏng, mất mát, huỷ hoại: Là sự giảm sút giá trị của một tài sản hoặc sự thiếu hụt về tài sản do người có nghĩa vụ gây ra.
- Những thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại mà phải dựa trên sự suy đoán khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại. Thiệt hại này còn được gọi là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
(*) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, xét theo phép duy vật biện chứng là mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tượng. Trong khoa học pháp lí dân sự, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra được hiểu là giữa chúng có mối liên hệ nội tại, tất yếu. Trong đó, hành vi vi phạm là nguyên nhân, thiệt hại xảy ra là kết quả. Chỉ khi nào thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật thì người vi phạm mới phải bồi thường thiệt hại.
Nguyên nhân và kết quả có mối hên hệ nối tiếp nhau, nguyên nhân bao giờ cũng đi trước, là cái sinh ra kết quả. Vì vậy, hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra tất yếu phải là hai giai đoạn gắn bó nhau của một quá trình vận động.
Mặt khác, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và một nguyên nhân có thể làm phát sinh nhiều kết quả. Vì vậy, nếu có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thiệt hại thì khi xác định ttách nhiệm bồi thường thuộc về ai, càn xem xét hành vi vi phạm của họ có quan hệ như thế nào đối với thiệt hại xảy ra. Nếu không xác định chính xác mối quan hệ này rất dễ dẫn đến những sai lầm khi áp dụng trách nhiệm dân sự.
(*) Lỗi của người vi phạm nghĩa vụ
Theo nguyên tắc suy đoán người không thực hiện, thực không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì có lỗi ttong việc vi phạm nghĩa vụ. Định nghĩa về lỗi quy định tại Điều 304 Bộ luật dân sự năm 2015.
Người vi phạm nếu chứng minh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên có quyền thì không phải chịu trách nhiệm dân sự (Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015).
4. So sánh giữa đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ và hủy bỏ hợp đồng
Điểm giống nhau giữa đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ và hủy bỏ hợp đồng
Hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng có những điểm giống nhau như sau:
– Đều là hành vi pháp lý của một bên trong hợp đồng làm căn cứ chấm dứt hợp đồng khi có những điều kiện do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận.
– Bên hủy bỏ, đơn phương chấm dứt phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
– Đều có hậu quả là kết thúc việc thực hiện hợp đồng
– Do một bên thực hiện
– Chỉ không phải bồi thường khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng. Đây cũng là điều kiện để áp dụng việc hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Điểm khác nhau giữa hủy bỏ hợp đồng và chấm dứt hợp đồng
Căn cứ pháp lý
– Hủy bỏ hợp đồng: Điều 423 Bộ luật dân sự 2015
– Đơn phương chấm dứt hợp đồng: Điều 428 Bộ luật dân sự 2015
Các trường hợp hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng
– Hủy bỏ hợp đồng: Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:
+ Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
+ Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
+ Trường hợp khác do luật quy định.
Như vậy, có 03 trường hợp dẫn đến hủy bỏ hợp đồng cụ thể như sau: Do chậm thực hiện nghĩa vụ; Do không có khả năng làm; Do tài sản bị hư hại, bị hỏng, bị mất.
– Đơn phương chấm dứt hợp đồng
+ Các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng: Khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng; Do hai bên thỏa thuận; Do pháp luật quy định
Điều kiện áp dụng
– Hủy bỏ hợp đồng
+ Một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
+ Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
+ Các trường hợp pháp luật có quy định, như: Chậm thực hiện nghĩa vụ, hợp đồng không có khả năng thực hiện, tài sản bị mất, hư hỏng
Như vậy điều kiện áp dụng để hủy bỏ hợp đồng phải có sự vi phạm hợp đồng.
– Đơn phương chấm dứt hợp đồng
+ Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Có nghĩa là, đơn phương chấm dứt hợp đồng có thể dựa trên sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật mà không cần xuất phát từ sự vi phạm hợp đồng.
+ Không bắt buộc phải có sự vi phạm hợp đồng bởi hai bên có thể thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
Hậu quả pháp lý
– Hủy bỏ hợp đồng
+ Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận
+ Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí
Như vậy, Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận. Có nghĩa là, hợp đồng coi như không tồn tại từ trước. Hợp đồng sẽ bị tiêu hủy, hủy bỏ hoàn toàn. Các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
– Đơn phương chấm dứt hợp đồng
+ Hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Hợp đồng có hiệu lực cho đến thời điểm thông báo chấm dứt. Hợp đồng dừng thực hiện và chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
+ Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
5. Mẫu văn bản đơn phương đình chỉ thực hiện nghĩa vụ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------
VĂN BẢN ĐƠN PHƯƠNG ĐÌNH CHỈ THỰC HIỆN
HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN
Tạị Văn phòng công chứng ......, địa chỉ : Số.... đường ......., thành phố ........., chúng tôi gồm có :
Ông : ..............................................
Ngày tháng năm sinh : ..........................
Chứng minh nhân dân số : ..................... cấp ngày ........... tại .........................................
Nguyên trước đây tôi và:
Bà : ................................................
Ngày tháng năm sinh : .................................................
Chứng minh nhân dân số :......................... cấp ngày ........... tại ......................................
Nay, bằng văn bản này tôi tuyên bố đình chỉ thực hiện hợp đồng ủy quyền nêu trên với các nội dung sau đây:
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
........................................................................................................................................................
.........................................................................................................................................................
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của những thông tin nêu trên. Tôi công nhận đã hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả pháp lý của việc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng ủy quyền
NGƯỜI LẬP VĂN BẢN
(ký và ghi rõ họ tên)