1. Sử dụng súng cướp ngân hàng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh gì?
Thứ nhất, đối với hành vi sử dụng súng:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ sửa đổi năm 2019 thì vũ khí quân dụng được quy định là vũ khí được chế tạo, sản xuất bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này để thi hành công vụ, trong đó có bao gồm: Súng cầm tay: súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu.
Do đó, đối với hành vi sử dụng súng cướp ngân hàng đã có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh sử dụng trái phép vũ khí quân dụng được quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể, đối với người chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
Theo đó, với tội danh này thì đối tượng sẽ đối diện với mức án nhẹ nhất là phạt tù từ 01 năm đến 07 năm. Tùy theo tính chất và các tình tiết khác trong vụ án mà khung hình phạt có thể tăng nặng thêm theo quy định pháp luật.
Thứ hai, đối với hành vi cướp tài sản:
Căn cứ tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tội cướp tài sản. Theo đó, tội cướp tài sản được thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn được mô tả như dùng vũ lực, đe dọa, dùng vũ lực ngay tức khắc; được các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt là hành vi mong muốn dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình trái pháp luật và trái ý chí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Hành vi dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất (có vũ khí hoặc công cụ, phương tiện khác) để chủ động tấn công người quản lý tài sản hoặc người khác; hành động tấn công này có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công và làm cho họ mất khả năng chống cự lại hoặc công khai để cho người bị tấn công biết.
Đe dọa dùng ngay tức khắc thông thường được kết hợp giữa hành vi sử dụng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực ngay tức khắc nếu không giao tài sản. Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi cho người bị tấn công tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không có cách nào chống cự được hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng , sức khỏe song không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra.
Việc xác định thế nào là đe doạ dùng vũ lực không khó bằng việc xác định thế nào là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc. Đây là dấu hiệu rất quan trong để phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản, nếu đe doạ dùng vũ lực nhưng không ngay tức khắc thì đó là là dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản. Ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội. Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội. Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.
Tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi dùng bạo lực, đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.
Theo đó, đối với hành vi cướp ngân hàng ở đây có sử dụng vũ khí với mục đích là đe dọa tính mạng của nạn nhân và làm cho nạn nhân rơi vào trạng thái không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Và người phạm tội là chủ thể thông thường, tức là bất kỳ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội cướp tài sản.
Như vậy, từ những nội dung nêu trên thì đối với người sử dụng súng để cướp ngân hàng thì có thể cấu thành 02 tội danh như Tội sử dụng vũ khí quân dụng trái phép và Tội cướp tài sản. Tùy thuộc vào tình tiết vụ án và kết quả từ phía cơ quan điều tra mà đối tượng dùng súng cướp ngân hàng mà có thể bị áp dụng hình phạt tù thích đáng.
2. Dùng súng cướp ngân hàng thì mức án phạt bao nhiêu năm tù?
Theo phần phân tích nêu trên thì người thực hiện hành vi dùng súng cướp ngân hàng thì sẽ xác định 02 tội danh là Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và Tội cướp tài sản. Khi đó, người này sẽ bị áp dụng hình phạt tù như sau:
Thứ nhất, đối với tội danh là sử dụng trái phép vũ khí quân dụng:
Theo Điều 304 Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội này sẽ áp dụng các hình phạt theo khung sau: phạt tù có thời hạn, cao nhất đến 20 năm; tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Thứ hai, đồi với tội cướp tài sản:
Căn cứ vào Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với người sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị áp dụng các hình phạt sau: phạt tù có thời hạn, cao nhất đến 20 năm; tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, theo nội dung phân tích ở trên thì riêng với tội danh cướp tài sản thì đối tượng đã có thể đối diện với mức án là tù chung thân. Do đó, khi tổng hợp hình phạt đối với người thực hiện hành vi dùng súng cướp ngân hàng (bao gồm hai tội danh là cướp tài sản và sử dụng trái phép vũ khí quân dụng) của đối tượng này thì có thể mức án cao nhất sẽ là tù chung thân.
Nếu tội danh cướp tài sản của đối tượng này không bị tuyên với án phạt tù là chung thân mà là tù có thời hạn thì việc tổng hợp hình phạt của cả 02 tội danh này phải đảm bảo hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn.
3. Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể áp dụng trong trường hợp này?
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017. Quy định này cho phép áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội sử dụng súng cướp ngân hàng. Các tình tiết giảm nhẹ có thể được áp dụng bao gồm:
- Tự thú: Người phạm tội thừa nhận tội danh của mình một cách tự nguyện.
- Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả: Người phạm tội có hành vi tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra hoặc khắc phục hậu quả do tội phạm.
- Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: Người phạm tội thể hiện sự thành khẩn trong việc thú nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.
- Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm: Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể xem đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên, Tòa án phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Ngoài ra, Điều 51 còn quy định về các tình tiết khác mà có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng súng cướp ngân hàng.
Tham khảo thêm: Điều kiện sử dụng súng hơi, sở hữu súng ở Việt nam có hợp pháp? Vui lòng liên hệ với LuậT Minh Khuê qua gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.