Tội cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 (BLHS) là một trong những tội phạm xâm phạm sở hữu và an ninh trật tự công cộng nghiêm trọng nhất. Trong khi nhiều tội chiếm đoạt tài sản khác, điển hình là Tội Trộm cắp (Điều 173 BLHS), đặt ngưỡng giá trị tài sản 2.000.000 VND là điều kiện tiên quyết để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS), thì Tội cướp giật lại có cơ chế lượng hình khác biệt. Điều này đã đặt ra câu hỏi pháp lý then chốt: Liệu hành vi cướp giật tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng có thể được miễn trừ hình phạt tù? Bài viết này sẽ phân tích làm rõ cơ sở pháp lý, các dấu hiệu cấu thành tội phạm, và những yếu tố quyết định khung hình phạt đối với Tội Cướp giật tại Việt Nam.

1. Cơ sở pháp lý Tội danh "Cướp giật tài sản"

Tội Cướp giật tài sản được quy định cụ thể tại Điều 171 BLHS, các yếu tố cấu thành tội phạm như sau:

Khách thể: Khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu tài sản. Tuy nhiên, do tính chất công khai, táo bạo và lợi dụng sự sơ hở, Tội Cướp giật còn xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn của người bị hại, cấu thành một loại tội phạm có khách thể kép.

Mặt khách quan: Hành vi chiếm đoạt được thực hiện một cách công khainhanh chóng, lợi dụng sự bất ngờ của chủ sở hữu để nhanh chóng tẩu thoát. Việc lợi dụng tốc độ để tẩu thoát là dấu hiệu phân biệt cơ bản với các tội chiếm đoạt khác. 

Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực TNHS. Đặc biệt, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn phải chịu TNHS về tội này nếu thuộc khung hình phạt rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.  

Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp, với mục đích chiếm đoạt tài sản để tư lợi.

2. Cướp giật tài sản dưới 2 triệu có bị phạt không? 

Việc cướp giật tài sản dưới 2 triệu đồng (2.000.000 VND) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và phạt tù. Trong Tội Cướp giật, ngưỡng giá trị 2.000.000 VND không phải là điều kiện tuyệt đối để khởi tố hình sự. Khác với Tội Trộm cắp (Điều 173), Tội Cướp giật được truy cứu TNHS ngay khi hành vi chiếm đoạt công khai được thực hiện, bất kể giá trị tài sản ban đầu là bao nhiêu.  

Tội Cướp giật tài sản được xác định là tội phạm có cấu thành hình thức trong Khung hình phạt cơ bản (Khoản 1 Điều 171 BLHS), quy định mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với người có hành vi cướp giật tài sản. Điều này ngụ ý rằng, hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội cướp giật được xác định dựa trên phương thức thực hiện (công khai, nhanh chóng, táo bạo) chứ không phải dựa trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt. 

Người thực hiện hành vi cướp giật tài sản trị giá dưới 2.000.000 VND vẫn sẽ bị truy cứu TNHS theo Khung 1 (Điều 171) nếu hành vi đó thỏa mãn một trong các điều kiện ngoại lệ sau đây:  

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
  • Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn tiếp tục phạm tội (thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm).
  • Hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.  
  • Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm (theo định nghĩa tại Điều 53 BLHS).  

Sự truy cứu TNHS đối với các vụ cướp giật giá trị thấp thông qua tình tiết "Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" cho thấy một định hướng pháp lý quan trọng: tính nguy hiểm cho xã hội của Tội Cướp giật không nằm ở giá trị tiền bạc mà ở sự xâm phạm công khai đối với trật tự quản lý xã hội, gây hoang mang dư luận. Do đó, pháp luật buộc phải truy cứu ngay lập tức để răn đe.

Hậu quả pháp lý của việc phạm Tội cướp giật, dù giá trị tài sản thấp, là nghiêm trọng và kéo dài. Tội cướp giật là tội phạm nghiêm trọng (Khung 1) hoặc rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng (các khung tăng nặng). Việc có án tích về tội phạm nghiêm trọng sẽ hạn chế nghiêm trọng các cơ hội trong tương lai của người phạm tội, bao gồm việc làm, học tập và xuất cảnh.

3. Các yếu tố quy định khung hình phạt cụ thể

3.1. Các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (Khoản 2, 3, 4 Điều 171 BLHS)

Các tình tiết tăng nặng được chia thành ba nhóm chính, thể hiện mức độ nguy hiểm tăng dần của hành vi phạm tội :  

3.1.1. Tình tiết liên quan đến phương thức thực hiện

Phạm tội có tổ chức: Hành vi được chuẩn bị và thực hiện bởi hai người trở lên có sự bàn bạc, phân công.  

Có tính chất chuyên nghiệp: Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản từ 05 lần trở lên, coi hành vi phạm tội là nguồn sống chính hoặc có tính chất thường xuyên.  

Tái phạm nguy hiểm: Đây là tình tiết tăng nặng kép, vừa là dấu hiệu định tội (cho phép khởi tố các vụ < 2 triệu VND) vừa là tình tiết định khung tăng nặng (Khoản 2 Điều 171). Tái phạm nguy hiểm áp dụng khi người phạm tội đã tái phạm về tội do cố ý, chưa được xóa án tích, hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.  

3.1.2. Tình tiết liên quan đến giá trị tài sản

Khoản 2: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Khoản 3: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Khoản 4: Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên (đối diện mức án từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân).  

3.1.3. Tình tiết liên quan đến nạn nhân và hoàn cảnh

Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ (Khoản 2).  

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân (Khoản 3: từ 31% đến 60%; Khoản 4: 61% trở lên hoặc cho 02 người trở lên, mỗi người 31% trở lên).  

Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh (Khoản 3).  

Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp (Khoản 4).

4. Ví dụ thực tiễn

Trong một vụ án xảy ra tại TP.HCM (vào cuối năm 2024), bị cáo Lê Quốc Thập Quý đã bị TAND quận Phú Nhuận tuyên phạt 3 năm tù giam về tội Cướp tài sản (Khoản 1 Điều 168 BLHS), mặc dù giá trị điện thoại bị chiếm đoạt chỉ là 1,2 triệu đồng.  

Tình huống: Bị cáo Quý tiếp cận từ phía sau, giật điện thoại và lớn tiếng đe dọa "Tao là cướp". Khi bị người bị hại (chị T) giằng co và túm lại, Quý đã dùng chân phải đạp vào đầu gối trái của chị T, khiến chị khuỵu xuống và buông điện thoại, sau đó Quý tẩu thoát.  

Ban đầu, hành vi "giật điện thoại" có thể là Cướp giật (Điều 171). Tuy nhiên, khi nạn nhân phản kháng, hành vi của bị cáo đã chuyển sang dùng vũ lực (đạp vào đầu gối) nhằm làm tê liệt ý chí kháng cự, buộc nạn nhân phải buông tài sản để chiếm đoạt thành công.  

Hành vi "dùng vũ lực" này đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành Tội Cướp tài sản (Điều 168), với khung hình phạt cơ bản là từ 03 năm đến 10 năm tù.  

Kết quả: Dù giá trị tài sản rất thấp (1,2 triệu VND), Tòa án vẫn buộc bị cáo chịu mức án 3 năm tù – mức tối thiểu của Tội Cướp tài sản. Phán quyết này thể hiện sự trừng trị nghiêm khắc đối với việc xâm phạm đến sức khỏe và sự an toàn của con người trong quá trình chiếm đoạt tài sản, vượt xa hành vi cướp giật thông thường.

Về mặt pháp lý, tính nguy hiểm của Tội Cướp giật nằm ở sự xâm phạm công khai đối với trật tự quản lý xã hội, thường được củng cố bằng tình tiết "Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" để khởi tố hình sự ngay cả khi tài sản chiếm đoạt có giá trị thấp.  

5. Tổng kết

Về mặt xã hội, Tội cướp giật gây ra hậu quả kép. Hậu quả trực tiếp thiệt hại về tài sản cho cá nhân. Thứ hai, hậu quả gián tiếp nghiêm trọng hơn là gây hoang mang, mất niềm tin và cảm giác bất an trong cộng đồng, buộc pháp luật phải truy cứu ngay lập tức để răn đe. Chỉ một hành vi dùng vũ lực nhỏ trong quá trình giằng co cũng có thể chuyển tội danh sang Tội cướp tài sản, khiến người phạm tội phải đối diện với khung hình phạt khởi điểm tăng lên đáng kể (3-10 năm tù), bất chấp giá trị tài sản thấp (như ví dụ điện thoại 1,2 triệu VND lãnh án 3 năm tù). Điều này minh chứng cho triết lý hình sự: hành vi xâm phạm tính mạng và sức khỏe con người, dù trong bối cảnh chiếm đoạt tài sản giá trị thấp, vẫn luôn bị trừng phạt ở mức cao nhất.   

Mọi thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến số Hotline1900.6162 để gặp luật sư tư vấn trực tiếp giải đáp các thắc mắc. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!