1. Dung tích toàn phần (Gross tonnage) được hiểu là như thế nào? 

Dung tích toàn phần (Gross tonnage) là tổng dung tích của những khoang trống từ đáy tàu lên tới boong chính và những khoang trống nằm trên boong chính, bao gồm dung tích những khoang chứa hàng, khoang chứa nước, nhiên liệu, buồng máy, các phòng ăn, ở, giải trí... trên tàu. Viết tắt là “GT”. Thuật ngữ này còn được gọi là “gross register tonnage”.

Dung tích toàn phần (Gross register tonnage) là viết tắt là “GRT”. Thuật ngữ này còn được gọi là “gross tonnage”.

Tổng dung tích hay dung tích toàn phần (tiếng Anh: Gross Tonnage, viết tắt GT) là thước đo phi tuyến tính của thể tích tổng thể bên trong của tàu. Khái niệm “tấn đăng ký” trước đây đã được thay thế bằng “tổng dung tích” khi Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thông qua Công ước quốc tế về đo dung tích tàu biển vào ngày 23 tháng 6 năm 1969 (Công ước TONNAGE 69). Không nên nhầm lẫn tổng dung tích hay tấn đăng ký (gross register tonnage) với các số đo khối lượng hoặc trọng lượng như trọng tải toàn phần hoặc chuyển vị.

Theo Điều 7 của Công ước TONNAGE 69 và có hiệu lực từ 1982, dung tích toàn phần áp dụng cho các tàu biển có chiều dài bằng hoặc hơn 24 m thay thế cho tấn đăng ký (gross register tonnage) trước kia và bao gồm toàn bộ không gian khép kín của tàu, được đo theo một công thức quy định:

  • Dung tích toàn bộ các hầm chứa hàng hoặc buồng chứa hành khách nếu có.
  • Dung tích buồng máy
  • Dung tích toàn bộ các kho chứa nhiên liệu, nước ngọt và thực phẩm.
  • Dung tích buồng ăn, buồng ngủ câu lạc bộ thuyền viên.
  • Dung tích buồng hải đồ và điện báo thông tin, nhưng không bao gồm dung tích buồng lái, buồng vệ sinh và lối đi lại, dung tích đáy đôi.

 

2. Dung tích toàn phần (Gross tonnage) có đặc điểm như thế nào?

Dung tích – Tonnage của một tàu gồm Tổng dung tích – GT và Dung tích thuần – NT. Gross tonnage (GT) tiếng Việt gọi là “tổng dung tích”, là số đo dung tích của toàn bộ các không gian kín ở trên tàu, bao gồm cả thể tích của ống khói. GT của tàu là cơ sở để tính các phí hàng hải như phí hoa tiêu, phí đăng ký, phí bảo hiểm và để làm cơ sở áp dụng cho các công ước hàng hải khác. 1 GT bằng 100 feet khối hay bằng 2,831 mét khối.

Net Tonnage (NT) tiếng Việt gọi là “Dung tích thuần”, là số đo dung tích của không gian giới hạn từ mặt boong chính trở xuống bao gồm không gian bên trong các hầm hàng, khu vực buồng máy, toàn bộ các két phía ngoài buồng máy và các không gian kín ở đáy đôi của con tàu và được sử dụng để tính các phí thuộc quyền hạn của chính quyền cảng (cảng vụ).

Thể hiện bằng:

GT là được tô xanh, bao gồm: hầm hàng, các két đáy đôi và 2 két mũi lái, buồng máy, ca bin, các kho mũi và lái, các monkey islands (khoang phía trên mặt boong chính để bố trí các tời cẩu hàng) và cột tàu Ships masts. Trên hình vẽ minh họa có một monkey island. Thể tích ống khói không được gộp vào GT.

NT bao gồm: hầm hàng, các két đáy đôi và 2 két mũi lái, buồng máy. Không bao gồm: ca bin, các kho mũi và lái, các monkey islands và cột tàu.

Theo công ước quốc tế của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) về đo dung tích tàu năm 1969 thì trừ tàu chiến và tàu có chiều dài nhỏ hơn 24 mét (79 feet), tất cả các tàu biển đều có phải giấy chứng nhận dung tích tàu của cơ quan đăng kiểm.

Ngày trước còn có hai khái niệm Gross Register Tonnage (GRT) và Net Register Tonnage (NRT) nhưng nay không được sử dụng nữa mặc dù hai khái niệm này cũng chính là của GT và NT. IMO đã thay thế GRT và NRT bằng GT và NT. Wording của công ước và các phụ lục liên quan, cũng như trong các giấy chứng nhận dung tích không còn sử dụng GRT và NRT.

Đơn vị của Dung tích theo cách gọi thông thường là “tấn”, nhưng khác với tấn = 1.000kg, và khác với đơn vị tấn được sử dụng trong Trọng tải. 

 

3. Tính toán dung tích toàn phần (Gross tonnage) như thế nào?

Tổng dung tích GT (Gross Tonnage) của tàu là dung tích tính dựa trên tòan bộ thể tích bên trong con tàu bao gồm cả phòng sinh hoạt cho thuyền viên, không gian cho buồng máy, trang thiết bị hàng hải … (Còn NT là dung tích các không gian kín để chứa hàng hóa).

Đơn vị đo dung tích tàu là MT (1 MT = 1 m³) (đơn vị đo dung tích đăng ký cũ: 1RT = 100 feet khối)

Việc tính toán dung tích toàn phần được xác định trong Quy định 3 của Phụ lục 1 của Công ước quốc tế về đo lường trọng tải của tàu, 1969.

Dung tích toàn phần của tàu được xác định theo công thức sau: GT = V x K (1)

Trong đó:

  • V = tổng thể tích các không gian kín của tàu, tính bằng mét khối (m³)
  • K1 = 0,2 + 0,02 • Log10 (V) (hoặc lấy theo bảng ở phụ lục chương 2 trong Tonnage 69)

Từ công thức (1), ta thấy hệ số K1 không có đơn vị nhưng V được tính bằng m3 nên thứ nguyên của GT cũng là m³ (tấn) nhưng hệ số K trong bảng tra trong Tonnage 69 có đơn vị là 1/m³ nên khi nhân vào triệt tiêu luôn, suy ra GRT hay GT không có thứ nguyên có thể giải thích là nó là 1 hàm số để tính dung tích tất cả không gian khép kín của tàu, và dựa vào công thức để chứng minh là được.

GRT và NRT: Dung tích đăng ký toàn phần và Dung tích đăng ký tịnh (ròng) của tàu, mà một số người vẫn quen gọi không chính xác là trọng tải đăng ký.

Đơn vị đo trọng tải là KG (kilogam lực) và "tấn trọng lượng" (có 3 loại: MT, LT và ST) trọng tải toàn phần (DWT) và chuyển vị (displacement) của tàu đo bằng đơn vị này, còn GRT và NRT đơn vị đo của nó là tonnage và 1 tonnage = 2.83m³. Vì thế mà trong đặc điểm của tàu, giá trị của nó bao giờ cũng nhỏ hơn chuyển vị và trọng tải toàn phần.

Ứng dụng của Gross stonnage 

Tổng dung tích GT dùng để :

- Biểu thị mức độ lớn nhỏ của tàu, là số đo biểu thị năng lực đội tàu;

- Để phân chia đẳng cấp tàu theo quy phạm quốc gia và công ước quốc tế. đồng thời là căn cứ để lập ra các tiêu chuẩn quản lý kỹ thuật và yêu cầu thiết bị của tàu thuyền;

- Là cơ sở để thu phí đăng ký, đăng kiểm;

- Làm căn cứ để dự tính chi phí đóng tàu, mua bán thuê tàu, các tranh chấp khiếu nại bồi thường về tổn thất hư hại hàng hải;

- Một số cảng dùng làm cơ sở tính chi phí cảng;

- Làm cơ sở để tính dung tích tịnh;

- Phân định giới hạn trách nhiệm trong các công ước quốc tế.

Dung tích tịnh NT (Net Tonnage)

Dung tích tịnh NT là số đo dung tích có ích, tức dung tích có thể chứa hàng và hành khách. Nói cách khác NT của tàu bằng GT trừ đi không gian dùng cho thuyền viên, không gian buồng máy, trang thiết bị hàng hải. Dung tích tịnh NT dùng để tính toán chi phí và tính thuế cảng (chi phí cảng vụ, hoa tiêu, cầu bến, thuế dung tích…)

Dung tích kênh đào Suez, kênh đào Panama ( Suez tonnage, Panama tonnage)

Để đảm bảo lợi ích quốc gia của mình, nhà đương cục kênh đào Suez và Panama không công nhận số đo dung tích của các quốc gia sở hữu tàu. Họ quy định cách đo lường dung tích riêng của họ để làm căn cứ tính toán chi phí đi qua các kênh trong lãnh thổ của họ. Theo quy định của họ, một số không gian nào đó trên tàu phải được tính thêm vào dung tích của tàu.

Dung tích qua kênh đào cũng chia làm hai loại: tổng dung tích kênh đào và dung tích kênh đào tịnh.

Dung tích kênh đào chỉ sử dụng để làm cơ sở tính toán chi phí qua kênh.

Quý khách hàng có nhu cầu tìm hiểu thêm về quy định pháp luật, có thể tham khảo nội dung bài viết sau của Luật Minh Khuê: Dung tích đăng ký tịnh (N.r.t) là gì ? Tìm hiểu

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng.