- 1. Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông
- 2. Gây tai nạn giao thông chết người đã bồi thường thiệt hại thì có bị đi tù không?
- 3. Trách nhiệm của người điều khiển phương tiện gây tai nạn giao thông
- 4. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn giao thông bị xử lý thế nào?
- 5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Cơ sở pháp lý:
- Luật giao thông đường bộ năm 2008
- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
1. Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông
Điều 260 Bộ luật hình sự hiện hành quy định về "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" như sau:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo đó, lái xe gây tại nạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 Bộ luật Hình sự trích dẫn trên. Cụ thể, người vi phạm có thể bị xử lý như sau:
Thứ nhất, phạt tiền từ 30 - 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 - 05 năm:
Người nào tham gia giao thông mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác:
- Làm chết người.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
- Gây thiệt hại về tài sản từ 100 đến dưới 500 triệu đồng.
Thứ hai, phạt tù từ 03 - 10 năm: Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Không có giấy phép lái xe theo quy định.
- Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác.
- Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.
- Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông.
- Làm chết 02 người.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% - 200%.
- Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đến dưới 1,5 tỷ đồng.
Thứ ba, phạt tù từ 07 - 15 năm: Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Làm chết 03 người trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.
- Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Thứ tư, phạt tiền từ 10 - 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng - 01 năm: Vi phạm quy định về tham gia giao thông mà có khả năng thực tế dẫn đến một trong các hậu quả sau nếu không được ngăn chặn kịp thời:
- Làm chết 03 người trở lên.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.
- Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 - 05 năm.
2. Gây tai nạn giao thông chết người đã bồi thường thiệt hại thì có bị đi tù không?
Trường hợp này khách hàng băn khoăn liệu sau khi đã thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt haij do gây tai nạn giao thông thì có được miễn trách nhiệm hình sự hay không. Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự hiện hành thì:
Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Như thế nào là vô ý phạm tội?
Theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự hiện hành lỗi vô ý phạm tội là khi:
- Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
- Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Với Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, người phạm tội được xác định là thực hiện hành vi với lỗi vô ý bởi họ có thể biết trước hậu quả nhưng thường cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Phân loại tội phạm đối với Tội vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ
Căn cứ Điều 9 và Điều 260 Bộ luật Hình sự hiện hành, việc phân loại tội phạm đối với Tội vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ được xác định như sau:
- Phạm tội theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt cao nhất là 05 năm tù được xác định là thực hiện tội phạm nghiêm trọng.
- Trường hợp phạm tội theo khoản 2 và khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt cao nhất lần lượt là 10 năm tù và 15 năm tù bị coi là thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng.
- Phạm tội theo khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt cao nhất là 01 năm tù được xác định là thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng.
Như vậy, người gây tai nạn giao thông mà đã bồi thường có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 hoặc khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Phải được người bị hại hoặc người đại diện của người đó tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Còn nếu gây tai nạn thuộc trường hợp tại khoản 2 và khoản 3 Điều 260 Bộ luật Hình sự, dù đã bồi thường và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự của bị hại thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên việc bồi thường thiệt hại sẽ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành.
3. Trách nhiệm của người điều khiển phương tiện gây tai nạn giao thông
Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Giao thông đường bộ 2008, người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn phải có các trách nhiệm sau:
- Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
- Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;
- Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.
4. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn giao thông bị xử lý thế nào?
Theo quy định tại khoản 17 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ "bỏ trốn sau khi gây tai nạn giao thông để trốn tránh trách nhiệm" là một trong hành vi bị nghiêm cấm. Hành vi này sẽ bị xử lý như sau:
Xử lý hành chính
Theo quy định tại các Điều 5, 6, 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, người điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn nhưng không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn sẽ bị xử lý như sau:
- Đối với người điều khiển ô tô: Mức phạt từ 16 triệu đồng đến 18 triệu đồng.
- Đối với người điều khiển xe máy, xe máy điện: Mức phạt từ 6 triệu đồng đến 8 triệu đồng.
- Đối với người điều khiển xe đạp, xe đạp điện: Mức phạt từ 400 nghìn đồng đến 600 nghìn đồng
Xử lý hình sự
Ngoài mức xử phạt hành chính nêu trên, người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn còn có thể bị xử lý hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông theo quy định của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đã nêu ở mục 1.
5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi gây tai nạn giao thông
Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015:
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác…
Việc bồi thường thiệt hại phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Trong trường hợp xảy ra tai nạn giao thông, pháp luật sẽ căn cứ vào yếu tố có lỗi để xử lý. Tuy nhiên, theo Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, phương tiện giao thông được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hai; Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng và tình thế cấp thiết. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm:
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
-Tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng;
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị hư hỏng…
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê