- 1. Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (thương tích 20%)
- Tầm quan trọng của tỷ lệ 20% trong việc xác định chế tài (hình phạt)
- 2. Trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích
- 2.1. Các khung hình phạt áp dụng cho tỷ lệ tổn thương cơ thể 20%
- Khung hình phạt cơ bản
- Các tình tiết định khung tăng nặng
- 2.2. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
- 3. Xử phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích
- Các trường hợp bị xử phạt hành chính khi chưa đến mức truy cứu hình sự
- Mức phạt tiền cụ thể với từng hành vi
- 4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích
- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Các khoản thiệt hại được bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm
- Quy trình yêu cầu và giải quyết bồi thường dân sự
- 5. Quy trình tố tụng hình sự, dân sự để xử lý hành vi cố ý gây thương tích
- Quy trình tố tụng hình sự (Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử):
- Quy trình tố tụng dân sự yêu cầu bồi thường tiệt hại
- 6. Khuyến nghị và lời khuyên pháp lý
- 7. Một số câu hỏi thường gặp liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích
- 7.1. Gây thương tích 20% có bị khởi tố hình sự không?
- 7.2. Trách nhiệm hình sự khi hai bên đều bị gây thương tích?
- 7.3. Thuê côn đồ gây thương tích 11 % bị xử lý như thế nào?
- 7.4. Khi bị người khác gây thương tích cần phải làm gì?
Hành vi này không chỉ bao gồm việc sử dụng sức mạnh cơ thể trực tiếp (như dùng tay, chân) hoặc kèm theo hung khí (như gậy gộc, dao, búa), mà còn mở rộng đến các thủ đoạn gián tiếp như ép nạn nhân tự gây thương tích, xô đẩy làm nạn nhân ngã, hoặc sử dụng chất độc hại như tạt axit, cho uống thuốc độc gây tổn hại nội tạng. Đặc biệt, pháp luật Việt Nam còn xem xét cả hành vi bắt nạt, miệt thị, lăng mạ người khác dẫn đến tổn hại về sức khỏe tinh thần như một dạng của hành vi gây tổn hại sức khỏe.
Sự mở rộng trong định nghĩa pháp lý của "cố ý gây thương tích" cho thấy rằng ý định gây hại là yếu tố cốt lõi, không chỉ giới hạn ở hành vi tấn công vật lý trực tiếp. Điều này bao hàm rằng ngay cả khi người gây ra hành vi không trực tiếp đánh đập nạn nhân, họ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm nếu hành động của họ (ví dụ: lạm dụng tâm lý dẫn đến tổn hại sức khỏe tinh thần, hoặc tạo bẫy gây thương tích) được thực hiện với mục đích gây hại và dẫn đến hậu quả thương tích. Việc xác định yếu tố "cố ý" trong những trường hợp này có thể phức tạp, đòi hỏi quá trình điều tra và đánh giá kỹ lưỡng để làm rõ mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả.
Hậu quả pháp lý của hành vi cố ý gây thương tích có thể rất đa dạng, bao gồm trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự. Các chế tài này được áp dụng tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi, tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân và các tình tiết liên quan khác.
Trong bài viết này, Luật Minh Khuê cung cấp một cái nhìn chuyên sâu và toàn diện về các chế tài pháp luật mà một cá nhân có thể phải đối mặt khi gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Phạm vi phân tích sẽ tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật hiện hành, bao gồm Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan khác. Đồng thời, sẽ đi sâu vào quy trình tố tụng hình sự và dân sự, đồng thời làm rõ các yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ xử lý, từ đó đưa ra các khuyến nghị pháp lý cần thiết.
1. Cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (thương tích 20%)
Tỷ lệ tổn thương cơ thể (hay còn gọi là thương tích) là một yếu tố then chốt, mang ý nghĩa quyết định trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi gây thương tích và từ đó làm căn cứ áp dụng các chế tài pháp luật phù hợp. Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể được thực hiện thông qua quy trình giám định pháp y, tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và phương pháp tính toán được quy định chi tiết tại Thông tư 22/2019/TT-BYT của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
Các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể bao gồm:
- Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của một người phải luôn nhỏ hơn 100%.
- Mỗi bộ phận cơ thể bị tổn thương chỉ được tính tỷ lệ % tổn thương cơ thể một lần. Tuy nhiên, nếu một tổn thương gây ra biến chứng hoặc di chứng sang bộ phận thứ hai đã được xác định, thì tỷ lệ % tổn thương cơ thể do biến chứng, di chứng đó sẽ được tính thêm.
- Trong trường hợp nhiều tổn thương cơ thể là triệu chứng thuộc cùng một hội chứng hoặc một bệnh đã được quy định trong Bảng tỷ lệ % tổn thương cơ thể, thì tỷ lệ % tổn thương cơ thể sẽ được xác định theo hội chứng hoặc bệnh đó.
- Khi tính toán tỷ lệ % tổn thương cơ thể, kết quả chỉ lấy đến hai chữ số hàng thập phân. Ở kết quả cuối cùng, tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể sẽ được làm tròn thành số nguyên (nếu số hàng thập phân từ 0,5 trở lên thì làm tròn thành 01 đơn vị).
Phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể được tính theo phương pháp cộng, cụ thể như sau:
Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể = T1 + T2 + T3 +... + Tn.
Trong đó, T1 là tỷ lệ % TTCT của tổn thương thứ nhất. T2 là tỷ lệ % của tổn thương thứ hai, được tính bằng công thức: T2 = (100 - T1) x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100. Công thức này tương tự cho các tổn thương tiếp theo.
Việc sử dụng công thức tính T2 = (100 - T1) x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100, và tương tự cho các tổn thương tiếp theo, cho thấy một cách tiếp cận đánh giá tổn thương tích lũy theo hướng "giảm dần hiệu suất". Điều này có nghĩa là mỗi tỷ lệ tổn thương tiếp theo được tính toán dựa trên khả năng còn lại của cơ thể, chứ không phải trên 100% ban đầu. Ví dụ, nếu tổn thương đầu tiên là 45%, thì tổn thương thứ hai (ví dụ 37%) sẽ được tính trên 55% khả năng còn lại của cơ thể, tức là (100-45) x 37/100 = 20,35%. Tổng cộng là 45% + 20,35% = 65,35%. Phương pháp này đảm bảo rằng tổng tỷ lệ tổn thương không bao giờ vượt quá 100%, phản ánh một cách đánh giá thực tế hơn về mức độ tổn hại tích lũy. Đối với trường hợp tỷ lệ tổn thương là 20%, nếu đây là kết quả của nhiều tổn thương nhỏ cộng lại, phương pháp này sẽ được áp dụng để xác định tổng tỷ lệ chính xác.
Tầm quan trọng của tỷ lệ 20% trong việc xác định chế tài (hình phạt)
Tỷ lệ tổn thương cơ thể 20% là một ngưỡng có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc phân loại mức độ nghiêm trọng của tội cố ý gây thương tích. Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% là một trong những căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mặc dù tỷ lệ 20% nằm trong khung thấp nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự (11%-30%), ý nghĩa thực sự của nó nằm ở sự tương tác với các tình tiết định khung tăng nặng cụ thể được liệt kê tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nếu hành vi gây thương tích 20% xảy ra kèm theo bất kỳ tình tiết tăng nặng nào trong số này, người phạm tội sẽ phải đối mặt với một khung hình phạt nghiêm khắc hơn đáng kể, chuyển từ Khoản 1 sang Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015.
Cụ thể, nếu không có các tình tiết định khung tăng nặng, hành vi gây thương tích 20% sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015. Tuy nhiên, nếu hành vi này được thực hiện bằng vũ khí nguy hiểm, axit, đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, hoặc có tính chất côn đồ, v.v., thì mức phạt tù có thể lên đến từ 02 năm đến 06 năm theo Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Điều này cho thấy rằng hoàn cảnh, phương thức thực hiện hành vi và đối tượng bị tác động có vai trò quan trọng không kém tỷ lệ tổn thương cơ thể trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hậu quả pháp lý.
2. Trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích
Về cấu thành tội phạm "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" (Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017) đã được Luật Minh Khuê phân tích chi tiết tại: Tội cố ý gây thương tích theo điều 134 Bộ Luật hình sự 2015. Có thể tóm lược "tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" được quy định chi tiết tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Để xác định một hành vi có cấu thành tội phạm này hay không, cần xem xét các dấu hiệu pháp lý sau:
Mặt khách thể: Tội phạm này xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người, một quyền cơ bản được pháp luật bảo hộ.
Mặt khách quan: Thể hiện qua hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Hành vi này có thể là việc sử dụng vũ lực trực tiếp (như dùng tay, chân, gậy gộc, dao, búa tác động lên cơ thể nạn nhân) hoặc các thủ đoạn khác (như ép nạn nhân tự gây thương tích, xô đẩy làm nạn nhân ngã, hoặc dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm mất hoặc suy giảm chức năng bộ phận cơ thể, ví dụ cho uống thuốc độc gây tổn hại nội tạng, tạt axit gây mù mắt). Hậu quả của hành vi này phải là tỷ lệ thương tật cụ thể, thể hiện qua tỷ lệ phần trăm mất sức lao động của nạn nhân.
Mặt chủ quan: Lỗi cố ý là yếu tố bắt buộc. Lỗi cố ý bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
- Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.
- Cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra thương tích, tổn hại tới tính mạng của người khác, nhưng vẫn thực hiện hành vi đó và chấp nhận để hậu quả đó xảy ra.
Sự phân biệt giữa cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp là một khía cạnh quan trọng trong quá trình tố tụng. Mặc dù cả hai đều dẫn đến trách nhiệm hình sự, nhưng mức độ mong muốn hậu quả xảy ra có thể ảnh hưởng đến đánh giá của Tòa án về mức độ lỗi của người phạm tội. Trong một số trường hợp, việc chứng minh lỗi cố ý gián tiếp có thể dẫn đến việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ như "tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại" , nếu người phạm tội thể hiện sự ăn năn và khắc phục hậu quả. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố tâm lý trong việc xác định mức độ đáng trách của hành vi.
Chủ thể: Người thực hiện hành vi phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
2.1. Các khung hình phạt áp dụng cho tỷ lệ tổn thương cơ thể 20%
Đối với hành vi cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%, các khung hình phạt sau đây có thể được áp dụng theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017):
Khung hình phạt cơ bản
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015: Nếu hành vi cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% (bao gồm 20% của người hỏi) mà không có bất kỳ tình tiết định khung tăng nặng nào được quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều 134, người phạm tội sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Các tình tiết định khung tăng nặng
Người phạm tội có các hành vi quy định từ điểm a đến k Khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì bị xem là có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Một điểm đặc biệt quan trọng là nếu hành vi gây thương tích 20% xảy ra kèm theo một trong các tình tiết định khung tăng nặng được liệt kê dưới đây, người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm (Khung 2 Điều 134 BLHS). Điều này cho thấy hệ thống pháp luật Việt Nam không chỉ chú trọng đến hậu quả (tỷ lệ tổn thương cơ thể) mà còn đặt nặng tầm quan trọng vào phương thức, đối tượng và bối cảnh của hành vi phạm tội. Sự hiện diện của những yếu tố này có thể làm tăng đáng kể mức độ nghiêm trọng của chế tài pháp luật, ngay cả khi tỷ lệ thương tật không quá cao.
Các tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) bao gồm :
- a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.
- b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm.
- c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.
- d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình.
- đ) Có tổ chức.
- e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
- g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê.
- i) Có tính chất côn đồ.
- k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Bảng 1: Khung hình phat tù theo Điều 134 BLHS 2015 (sửa đổi 2017) có tỷ lệ tổn thương cơ thể 11%-30% và Các tình tiết tăng nặng định khung
| Tỷ lệ tổn thương cơ thể | Tình tiết định khung tăng nặng (Điểm a đến k Khoản 1 Điều 134) | Khung hình phạt áp dụng (Điều 134 BLHS) |
| 11% - 30% (bao gồm 20%) | Không có | Khoản 1: Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm |
| 11% - 30% (bao gồm 20%) | Có một trong các tình tiết từ Điểm a đến k Khoản 1 | Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 06 năm |
Như vậy, có thể thấy rằng không phải cứ gây thương tích 20% thì sẽ có mức phạt giống nhau. Căn cứ theo quy định trên thì phải xem xét hành vi cố ý gây thương tích có tình tiết định tăng nặng theo khoản 1, điều 134 hay không để có căn cứ pháp lý xác định mức hình phạt theo điều này.
2.2. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự
Ngoài các tình tiết định khung tăng nặng đã nêu, Tòa án sẽ tiếp tục xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi 2017) và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52 BLHS 2015, sửa đổi 2017) để quyết định mức hình phạt cụ thể trong khung hình phạt đã được xác định.
Các tình tiết giảm nhẹ quan trọng có thể được áp dụng bao gồm :
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
- Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
- Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án.
- Người phạm tội tự thú.
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra.
- Người phạm tội là phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Các tình tiết tăng nặng quan trọng có thể được áp dụng bao gồm :
- Phạm tội có tổ chức (nếu tình tiết này chưa được sử dụng làm yếu tố định khung hình phạt).
- Phạm tội có tính chất côn đồ (nếu tình tiết này chưa được sử dụng làm yếu tố định khung hình phạt).
- Phạm tội 02 lần trở lên.
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội.
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên (nếu tình tiết này chưa được sử dụng làm yếu tố định khung hình phạt).
Một nguyên tắc quan trọng trong việc áp dụng các tình tiết này là: các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì sẽ không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nữa. Điều này nhằm tránh việc "tính hai lần" cùng một yếu tố để tăng nặng hình phạt, đảm bảo sự công bằng trong việc lượng hình. Ví dụ, nếu hành vi gây thương tích 20% đã bị chuyển từ Khoản 1 sang Khoản 2 Điều 134 vì có yếu tố "có tổ chức" (là tình tiết định khung), thì yếu tố "có tổ chức" này sẽ không được sử dụng thêm một lần nữa như một tình tiết tăng nặng chung theo Điều 52 để tăng thêm mức án trong khung hình phạt của Khoản 2. Sự phức tạp này đòi hỏi một phân tích pháp lý cẩn trọng để đảm bảo việc áp dụng pháp luật chính xác.
3. Xử phạt hành chính hành vi cố ý gây thương tích
Các trường hợp bị xử phạt hành chính khi chưa đến mức truy cứu hình sự
Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị xử phạt hành chính. Điều này thường áp dụng cho các trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và không có các tình tiết định khung tăng nặng theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội được cụ thể hóa tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Sự tồn tại của chế tài hành chính cho các hành vi gây thương tích chưa đến mức truy cứu hình sự thể hiện một chủ trương rõ ràng của pháp luật. Điều này đảm bảo rằng không có hành vi cố ý gây tổn hại nào bị bỏ qua mà không phải chịu bất kỳ chế tài nào, ngay cả khi hậu quả chưa đủ nghiêm trọng để cấu thành tội phạm hình sự. Đây là một "lưới an toàn" pháp lý, giúp duy trì trật tự xã hội và răn đe các hành vi bạo lực dù ở mức độ nhỏ.
Mức phạt tiền cụ thể với từng hành vi
Theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP, các mức phạt tiền cụ thể cho hành vi cố ý gây thương tích chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định này nằm tại Điểm a Khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, thuê, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, kích động người khác cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Trong trường hợp tổ chức thực hiện hành vi tương tự, số tiền phạt có thể tăng lên gấp đôi theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 144/2021/NĐ-CP.
Mức phạt hành chính này, dù không phải là hình phạt tù, vẫn là một khoản tiền đáng kể, có tác dụng răn đe và khẳng định rằng mọi hành vi cố ý gây hại đều phải chịu trách nhiệm, dù không đạt đến ngưỡng hình sự.
Như vậy, với hành vi gây thương tích cho người khác 20% - Người vi phạm sẽ bị xử lý hình sự thay vì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định trên.
4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý gây thương tích
Theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015, hành vi gây thương tích cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi có hành vi gây thiệt hại mà không dựa trên một thỏa thuận hợp đồng nào giữa các bên. Theo nguyên tắc chung, bên có hành vi trái pháp luật và gây ra thiệt hại phải có nghĩa vụ bồi thường cho bên bị thiệt hại.
Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm :
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
- Các bên có quyền thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường (bằng tiền, hiện vật hoặc thực hiện một công việc), và phương thức bồi thường (một lần hoặc nhiều lần), trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Nếu bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại, họ sẽ không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
- Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Nguyên tắc "bồi thường toàn bộ và kịp thời" cùng với khả năng "thỏa thuận" giữa các bên cho thấy sự ưu tiên của pháp luật đối với việc giải quyết tranh chấp một cách hòa giải và hiệu quả. Điều này khuyến khích các bên tìm kiếm giải pháp thỏa thuận, có thể giúp tránh được các tranh chấp kéo dài tại tòa án. Đối với người gây ra thiệt hại, việc chủ động đề xuất bồi thường đầy đủ và kịp thời không chỉ giúp họ hoàn thành nghĩa vụ dân sự mà còn có thể được xem xét như một tình tiết giảm nhẹ quan trọng trong vụ án hình sự, theo Điều 51 Bộ luật Hình sự về "tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả".
Các khoản thiệt hại được bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm
Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm các khoản sau :
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại: Bao gồm các chi phí y tế, thuốc men, vật tư, chi phí phục hồi chức năng, v.v.
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại: Nếu không xác định được thu nhập thực tế, mức bồi thường sẽ được tính theo mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị: Đặc biệt, nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần người chăm sóc thường xuyên, chi phí chăm sóc được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu: Mức bồi thường cho tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở. Việc bao gồm khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là một điểm quan trọng, thể hiện sự công nhận của pháp luật đối với những tổn hại phi vật chất mà nạn nhân phải chịu đựng, như đau đớn, mất mát tinh thần, ảnh hưởng tâm lý. Điều này phản ánh một cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc bồi thường, vượt ra ngoài các chi phí kinh tế trực tiếp.
- Các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật: Bao gồm các chi phí phát sinh hợp lý khác liên quan đến việc khắc phục hậu quả thương tích.
Bảng 2: Các khoản bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm theo Điều 590 Bộ Luật dân sự năm 2015
| Loại thiệt hại | Căn cứ pháp lý | Ghi chú/Giải thích |
| Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe | Điều 590 Khoản 1 Điểm a BLDS 2015 | Các chi phí y tế, thuốc men, vật tư, phục hồi chức năng hợp lý. |
| Thu nhập thực tế bị mất/giảm sút | Điều 590 Khoản 1 Điểm b BLDS 2015 | Nếu không xác định được, tính theo mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại. |
| Chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc | Điều 590 Khoản 1 Điểm c BLDS 2015 | Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần chăm sóc thường xuyên, chi phí chăm sóc là 01 ngày lương tối thiểu vùng/ngày. |
| Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần | Điều 590 Khoản 2 BLDS 2015 | Do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được, mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở. |
| Các thiệt hại khác | Điều 590 BLDS 2015 | Các chi phí phát sinh hợp lý khác theo quy định pháp luật. |
Quy trình yêu cầu và giải quyết bồi thường dân sự
Quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự thường bắt đầu bằng việc khuyến khích các bên tự thỏa thuận. Đây là bước ưu tiên, giúp các bên đạt được giải pháp nhanh chóng và linh hoạt, đồng thời giảm tải cho hệ thống tư pháp.
Nếu việc thỏa thuận không thành công, bên bị thiệt hại có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Hồ sơ khởi kiện cần bao gồm Đơn khởi kiện, bản sao CMND hoặc hộ khẩu của người khởi kiện, và các tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế (ví dụ: biên bản giám định, hóa đơn y tế, giấy tờ chứng minh thu nhập bị mất). Ngoài ra, cần có tài liệu chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây lỗi và thiệt hại đã xảy ra.
Quy trình tố tụng dân sự tại Tòa án bao gồm các bước chính sau:
- Nộp đơn: Người khởi kiện nộp đơn và hồ sơ tại Tòa án có thẩm quyền.
- Tiếp nhận và thông báo nộp tạm ứng án phí: Tòa án sẽ tiếp nhận hồ sơ và ra thông báo yêu cầu người khởi kiện nộp tạm ứng án phí.
- Thụ lý vụ án: Sau khi người khởi kiện nộp biên lai tạm ứng án phí, Thẩm phán sẽ ra quyết định thụ lý vụ án và gửi thông báo thụ lý cho các đương sự và Viện kiểm sát.
- Trình bày ý kiến: Các bên đương sự có thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo để gửi văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung khởi kiện.
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Sau khi hoàn tất các thủ tục chuẩn bị, Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Việc chủ động giải quyết trách nhiệm dân sự thông qua thỏa thuận hoặc bồi thường sớm không chỉ giúp người gây thiệt hại thể hiện thiện chí mà còn có thể là một yếu tố quan trọng để Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt trong vụ án hình sự.
5. Quy trình tố tụng hình sự, dân sự để xử lý hành vi cố ý gây thương tích
Quy trình tố tụng hình sự (Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử):
Quy trình tố tụng hình sự đối với tội cố ý gây thương tích bao gồm nhiều giai đoạn, từ khởi tố đến thi hành án, mỗi giai đoạn đều có những quy định và thời hạn cụ thể.
Khởi tố vụ án hình sự: Giai đoạn này thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra. Đối với tội cố ý gây thương tích, vụ án thường chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định tại Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi 2021).
Tuy nhiên, đối với trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể 20%, nếu hành vi gây thương tích kèm theo các tình tiết định khung tăng nặng từ Điểm a đến k Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (ví dụ: dùng vũ khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ, hoặc đối với người dưới 16 tuổi), thì tội danh sẽ được xem xét theo Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Trong những trường hợp này, vụ án có thể không thuộc diện "tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại" theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều này có nghĩa là, dù bị hại có rút yêu cầu khởi tố, cơ quan nhà nước vẫn có thể tiếp tục quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng, quyết định khả năng kiểm soát của bị hại đối với việc xử lý hình sự và đồng thời ảnh hưởng đến chiến lược pháp lý của người bị buộc tội.
Điều tra vụ án hình sự: Giai đoạn này do cơ quan điều tra thực hiện, nhằm thu thập chứng cứ, lấy lời khai của các bên liên quan, và tiến hành giám định thương tật. Thời hạn điều tra đối với các vụ án cố ý gây thương tích thường không quá 02 tháng, và có thể được gia hạn một lần không quá 02 tháng nếu cần thiết. Trong quá trình này, bị can có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam để phục vụ công tác điều tra, với thời hạn không quá 02 tháng và có thể gia hạn một lần không quá 01 tháng. Vai trò của luật sư trong giai đoạn này là rất quan trọng, bao gồm việc thu thập chứng cứ có lợi cho thân chủ, tham gia hỏi cung, và kiến nghị thay đổi các biện pháp ngăn chặn (ví dụ: từ tạm giam sang bảo lãnh).
Truy tố hình sự: Sau khi kết thúc điều tra, hồ sơ vụ án sẽ được chuyển sang Viện kiểm sát. Viện kiểm sát sẽ quyết định có truy tố bị can trước Tòa án hay không, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án/bị can. Quyết định này phải được đưa ra trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ (có thể gia hạn thêm 10 ngày). Tại giai đoạn này, luật sư có thể xem xét hồ sơ và đưa ra các kiến nghị cho Viện kiểm sát, như kiến nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc thậm chí kiến nghị đình chỉ vụ án.
Xét xử vụ án hình sự: Giai đoạn này bắt đầu khi Viện kiểm sát quyết định truy tố và chuyển hồ sơ sang Tòa án để xét xử. Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử trong vòng 30 ngày (có thể gia hạn 15 ngày đối với vụ án phức tạp), và phiên tòa sẽ được mở trong vòng 15 ngày tiếp theo (có thể là 30 ngày trong trường hợp bất khả kháng). Luật sư sẽ chuẩn bị chiến lược bào chữa, tham gia tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ.
Thi hành án: Đây là giai đoạn cuối cùng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các hình phạt đã tuyên sẽ được thi hành.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Đối với tội cố ý gây thương tích, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm kể từ ngày hành vi phạm tội xảy ra.
Quy trình tố tụng dân sự yêu cầu bồi thường tiệt hại
Quy trình tố tụng dân sự để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cố ý gây thương tích thường trải qua nhiều giai đoạn, từ thu thập chứng cứ đến thi hành án.
- Bước 1: Thu thập chứng cứ
- Bước 2: Hòa giải
- Bước 3: Khởi kiện tại Tòa án
- Bước 4: Thi hành án dân sự
Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thực hiện, người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành. Các biện pháp thi hành án có thể bao gồm khấu trừ tiền từ tài khoản, kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo việc chi trả bồi thường.
Điều quan trọng cần lưu ý là quy trình tố tụng hình sự và dân sự, mặc dù riêng biệt, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ. Một bản án hình sự có tội thường là cơ sở vững chắc để bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự. Ngược lại, việc người gây thiệt hại chủ động và kịp thời bồi thường thiệt hại dân sự có thể được xem xét là một tình tiết giảm nhẹ quan trọng trong quá trình xử lý hình sự. Sự tương tác này đòi hỏi một chiến lược pháp lý phối hợp giữa hai lĩnh vực để đạt được kết quả tối ưu cho người bị buộc tội.
6. Khuyến nghị và lời khuyên pháp lý
Với tính chất phức tạp của các chế tài pháp luật liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích (bao gồm trách nhiệm hình sự, hành chính và dân sự), cùng với sự đa dạng của các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ xử lý (như tỷ lệ tổn thương cơ thể, các tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ, và quy trình tố tụng), việc tham vấn luật sư là vô cùng cần thiết.
Luật sư chuyên nghiệp sẽ đóng vai trò then chốt trong việc:
- Đánh giá chính xác tình huống: Phân tích toàn diện hành vi, bối cảnh, và các yếu tố liên quan để xác định chính xác mức độ nghiêm trọng của vụ việc và các chế tài có thể áp dụng.
- Tư vấn về quyền và nghĩa vụ: Giúp người liên quan hiểu rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong suốt quá trình tố tụng.
- Xây dựng chiến lược pháp lý: Đề xuất chiến lược bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi hiệu quả nhất, bao gồm việc xác định các tình tiết giảm nhẹ có thể áp dụng và cách thức khắc phục hậu quả.
- Đại diện trong suốt quá trình tố tụng: Thay mặt thân chủ làm việc với các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, đảm bảo các thủ tục pháp lý được tuân thủ và quyền lợi của thân chủ được bảo vệ.
Sự tham gia của luật sư ngay từ giai đoạn điều tra sớm nhất có thể giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội, ngăn chặn các hành vi vi phạm tố tụng (như tra tấn, ép buộc cung khai), và tránh nguy cơ oan sai.
Nếu bạn đang gặp vướng mắc pháp lý trong việc xử lý vấn đề này, Hãy liên hệ ngay với Luật Minh Khuê qua số: 1900.6162 để được tư vấn pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích. Trong trường hợp, bạn cần sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa vụ án hình sự liên quan đến tội cố ý gây thương tích có thể trao đổi với Luật sư Tô Thị Phương Dung qua số 0986.386.648 để được báo giá chi tiết dịch vụ của Công ty luật Minh KHuê.
Để đối phó hiệu quả với tình huống pháp lý liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 20%, các bước sau đây được khuyến nghị:
- Thu thập và lưu giữ tài liệu: Tập hợp và bảo quản tất cả các tài liệu liên quan đến vụ việc, đặc biệt là kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân. Các tài liệu khác như biên bản hiện trường, lời khai ban đầu, hóa đơn y tế, hoặc bất kỳ bằng chứng nào về hành vi và hậu quả đều rất quan trọng.
- Chủ động liên hệ với luật sư: Tìm kiếm và tham vấn luật sư chuyên về hình sự và dân sự càng sớm càng tốt để được tư vấn và hỗ trợ pháp lý chuyên sâu. Việc này sẽ giúp xây dựng một chiến lược toàn diện, từ việc đối phó với cáo buộc hình sự đến việc giải quyết trách nhiệm bồi thường dân sự.
- Thể hiện thiện chí bồi thường thiệt hại: Nếu có khả năng, chủ động liên hệ với bị hại để thể hiện thiện chí và đàm phán về việc bồi thường thiệt hại. Việc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan trọng, có thể ảnh hưởng tích cực đến mức hình phạt mà Tòa án sẽ tuyên.
7. Một số câu hỏi thường gặp liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích
7.1. Gây thương tích 20% có bị khởi tố hình sự không?
Xin chào luật sư, em có một vấn đề muốn hỏi luật sư, chuyện là vậy: Em trai em có xô xát với một người phụ nữ và có dùng chân tay làm thương tích vùng mũi gây sập xương sống mũi bà kia, giờ kết quả giám định trên 20% thì em trai của em sẽ bị mức án như thế nào vậy luật sư? Ở mức này liệu có ở mức án treo được không? Xin luật sư giải đáp giúp em với? Mong được sự hồi đáp nhanh nhất từ luật sư. Cảm ơn Luật sư! (Người hỏi: T.K.M)
Trả lời:
Như bạn nói ở trên thì em bạn có đánh sập sống mũi 1 người mà tỷ lệ thương tật là 20%. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Về việc có được hưởng án treo không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì: "1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự...."
Đồng thời, theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
- Có nhân thân tốt.
- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.
- Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Như vậy, nếu em bạn em bạn có 3 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trên thì có đủ căn cứ để đề nghị Tòa án xét cho hưởng án treo.
7.2. Trách nhiệm hình sự khi hai bên đều bị gây thương tích?
Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Em trai tôi có mâu thuẫn với một số người tại cơ quan. Hôm trước, họ đến nhà em trai tôi đem theo hung khí và xông vào chém em trai tôi 2 nhát gây thương tích, trong lúc bị chém, em trai tôi đã vơ được chiếc chĩa và đâm lại khiến một người bị thương, họ viết đơn tố cáo và em trai tôi bị bắt tạm giam. Vậy tôi xin nhờ luật sư tư vấn giúp tôi:Em trai tôi có thể làm đơn tố cáo lại được không? Và em trai tôi có phải phạm tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh không? Cơ quan nào giám định tỷ lệ thương tật, và nếu em trai tôi có tỉ lệ thương tật 11% trở lên, còn họ có tỷ lệ thương tật là 31% thì em trai tôi có thể làm đơn tố cáo lại họ được không? Nếu có tỷ lệ thương tật cả hai bên như trên thì cả hai bên có bị truy tố trách nhiệm hình sự không? Mong luật sư tư vấn giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn! (Người gửi: H.G)
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Ngoài ra tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Trong trường hợp này, em bạn có quyền khởi kiện lại hành vi cố ý đánh người gây thương tích của bên kia. Mặc dù em bạn gây ra cho bên kia thương tật với tỷ lệ 31%, và mình bị thương tật tỷ lệ 11% thì vẫn có quyền khởi tố bên kia với lý do cố ý gây thương tích.
Như bạn nói em trai bạn bị người ta cầm dao chém 2 nhát gây thương tích, trong lúc bị chém em trai bạn mới cầm chĩa đâm lại làm cho một trong số những người đấy bị thương 31%. Xét thấy đây là hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự 2015. Em bạn sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Nếu cả 2 bên bị thương tật với tỷ lệ như trên chỉ bị truy tố trách nhiệm hình sự khi các bên khởi kiện, nếu các bên không khởi kiện thì sẽ chỉ cần bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự.
Cơ quan giám định thương tật:
Cũng căn cứ theo khoản 4 Điều 2 Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định: "....4. Cá nhân, tổ chức giám định tư pháp bao gồm giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc...."
Như vậy khi cần giám định, người yêu cầu giám định có thể yêu cầu các cá nhân, tổ chức giám định tư pháp trên để giám định cho mình.
7.3. Thuê côn đồ gây thương tích 11 % bị xử lý như thế nào?
Thưa Luật sư, năm 2014 ông A có cho bố em vay số tiền 30 triệu không có lãi suất. Sau đó, bố em đã trả cho ông A lần 1 là 20 triệu, lần 2 là 5 triệu đều có người làm chứng. Nhưng sau đó ông A nói rằng bố em chưa trả cho ông ấy lần nào và còn thuê một nhóm người đến đánh bố em gây thương tích 11%. Vậy luật sư cho em hỏi là ông A đòi bố em cả số tiền 30 triệu có đúng không? Việc ông A thuê người đến đánh bố em như vậy có vi phạm pháp luật? Mong sớm nhận được phản hồi từ phía luật sư. Xin cảm ơn!
Trả lời:
Theo thông tin bạn cung cấp thì bố bạn vay ông A số tiền 30 triệu không có lãi suất. Sau đó, bố em đã trả cho ông A lần 1 là 20 triệu, lần 2 là 5 triệu đều có người làm chứng. Nhưng sau đó ông A nói rằng bố bạn chưa trả cho ông ấy lần nào. Như vậy, chỉ cần có người làm chứng cho bố bạn về việc đã trả cho ông A thì sẽ là căn cứ có lợi cho bố bạn để chứng minh rằng bố bạn đã thực hiện nghĩa vụ. Chỉ còn số tiền 5 triệu chưa trả thì mình sẽ trả cho ông A chứ không phải toàn bộ 30 triệu.
Về việc ông A thuê một nhóm người đến đánh bố bạn gây thương tích 11% thì có dấu hiệu của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo điểm h khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: "Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê".
Như vậy, gia đình bạn có thể yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự với ông A ra trước pháp luật và yêu cầu bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm. Cụ thể Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
7.4. Khi bị người khác gây thương tích cần phải làm gì?
Trong trường hợp này, người bị người khác gây thương tích cần được đưa đi chữa trị kịp thời và phải giám định tỷ lệ thương tật. Tùy theo tỷ lệ thương tật giám định được và trường hợp cụ thể gây thương tích mà người gây thương tích phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hay xử phạt hành chính theo hị định 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình . Người gây thương tích còn phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra theo quy định tại Điều 590 và Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015.