1. Trên sổ đỏ chỉ ghi tên vợ thì có là tài sản chung không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 1985, anh Xuyên và chị Tài kết hôn và đã tạo lập được tài sản chung là căn nhà trên thửa đất gần 100m2. Năm 1994, anh Xuyên vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn.
Đến năm 2003, UBND xã tiến hành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình trong xã, chị Tài đã đứng ra làm đầy đủ hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá thời hạn giải quyết đã lâu nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chị Tài đến UBND xã yêu cầu trả lời.Cán bộ địa chính xã cho biết hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình chị Tài đã đầy đủ nhưng vì trong Sổ hộ khẩu ghi anh Xuyên là chủ hộ nên cần anh Xuyên đến làm thủ tục hoặc có giấy thể hiện sự đồng ý để chị Tài cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xã mới có cơ sở để trình cấp có thẩm quyền giải quyết. Chị Tài cho rằng, cán bộ địa chính xã giải quyết không đúng nên đã tìm gặp Chủ tịch UBND xã đề nghị giải quyết.
Xin luật sư tư vấn như vậy có đúng không ? Cảm ơn!

.Ghi tên người vợ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời :

Việc cán bộ địa chính trì hoãn xem xét giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chị Tài vì lý do cần sự có mặt của anh Xuyên, với tư cách là chủ hộ gia đình để thể hiện sự đồng ý về việc cho chị Tài - vợ anh Xuyên cùng được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp với quy định của pháp luật về quyền bình đẳng của vợ chồng trong sở hữu tài sản chung và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản chung của vợ chồng.

- Quyền bình đẳng của vợ và chồng trong đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung

Trong trường hợp này, thông qua các giấy tờ có trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chị Tài đã nộp, cán bộ địa chính có cơ sở để khẳng định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng anh Xuyên, chị Tài. Đây là tài sản mà anh Xuyên, chị Tài đã đóng góp công sức chung để tạo lập và là tài sản hình thành sau khi anh Xuyên và chị Tài đã kết hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này bắt buộc phải ghi tên của cả anh Xuyên và chị Tài.

Như vậy, yêu cầu của cán bộ địa chính về việc cần có sự đồng ý của người chồng không chỉ trái pháp luật vì đặt ra thêm thủ tục mà pháp luật đất đai không quy định, hơn nữa còn thể hiện sự không coi trọng quyền bình đẳng của vợ chồng trong sở hữu tài sản chung.

Với những phân tích trên cho thấy, việc cán bộ địa chính trì hoãn xem xét hồ sơ để trình cấp có thẩm quyền giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Xuyên, chị Tài là không đúng pháp luật. Do đó, với yêu cầu của chị Tài, Chủ tịch UBND xã cần chỉ đạo cán bộ địa chính nhanh chóng thụ lý hồ sơ và giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Chia tài sản chung khi đã ly hôn ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi và chồng tôi kết hôn 2012, có mua miếng đất bằng tiền thế chấp miếng đất này cho ngân hàng trong thời gian này (2 vợ chồng đứng tên miếng đất), nên 2 vợ chồng cùng đứng tên vay, mỗi tháng trả hơn 10 triệu vừa gốc và lãi.
Từ đầu năm 2013 đến tháng 5/2013 chúng tôi xây nhà 3 tấm trên mảnh đất này. Vì còn vay trong ngân hàng nên chúng tôi chưa làm giấy tờ nhà và đất (sổ hồng). Đến tháng 9/2013 vợ chồng tôi ly hôn. Vì vậy tôi muốn hỏi luật sư, với nhà và đất như vậy tôi và chồng phải giải quyết phân chia như thế nào? Có bán được hay không? (vì đã cầm miếng đất cho ngân hàng). Sau ly hôn chồng của tôi ở trên đất và nhà của chúng tôi, chồng tôi có cho Công ty thuê làm văn phòng... Tiền cho thuê thì anh ta lấy, còn tiền vay ngân hàng thì anh ta tự trả từ khi ly hôn tới giờ) ?
Cám ơn luật sư.
Người gửi: ngoc

>> Luật sư tư vấn chia tài sản chung gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Sau khi ly hôn, tài sản chung vợ chồng và nghĩa vụ chung của vợ chồng trước khi ly hôn được giải quyết như đối với tài sản sản thuộc sở hữu chung của hai cá nhân. Nếu sau khi đã ly hôn, pháp luật cho phép hai bên vợ chồng tự thỏa thuận về vấn đề phân chia tài sản thuộc sở hữu chung, không tự thỏa thuận được thì có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ theo Điều 219 BLDS 2015 về chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung, theo đó:

Điều 219. Chia tài sản thuộc sở hữu chung

1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Bên cạnh đó, nếu hai bạn muốn chuyển nhượng mảnh đất thuộc sở hữu chung mà tại thời điểm này vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chưa đủ điều kiện. Bởi, Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định:

"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất."

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn 1900.6162. Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung không ?

Kính chào luật sư, sau đây là vấn đề em gặp phải mong luật sư tư vấn giùm ạ. Em và vợ cũ ở với nhau được 10 năm và có 2 con. Trong thời gian chung sống 2 vợ chồng có mua được nhà riêng , ki ốt ở chợ ( giấy tờ viết tay) 2 vc đứng tên ( tất cả giấy tờ cô ấy giữ ), sổ hộ khẩu em là chủ hộ. Nay li dị trên toà vì thương con nên e đồng ý tài sản thoả thuận. Nhưng sau 1 thời gian cô ấy đi lấy chồng và em yêu cầu chia tài sản thì cô ấy kg chịu.
Em lên toà xin được giải quyết lại tài sản thì toà bảo phải kẹp theo giấy tờ nhà , nhưng hiện em kg giữ, vì lúc còn vợ chồng cô ấy giữ hết giấy tờ Nay em xin nhờ luật sư tư vấn em phải làm sao? Chẳng lẽ e mất trắng tất cả?
Em xin chân thành cảm ơn

Trả lời:

Trường hợp vợ của bạn không cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ vào Điều 6, Điều 23 Bộ luật tố tụng dân sư 2015 chị có quyền yêu cầu cơ quan quản lý hồ sơ đất đai cấp trích lục quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Phòng tài nguyên và môi trường); hoặc xin xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn (nơi quản lý đất đai trực tiếp) và nộp kèm theo đơn yêu cầu tới TAND.

Thưa luật sư, xin Luật sư cho e hỏi: Hiện tại e đang đứng tên sổ quyền sử dụng đất, tiền đất là tiền e trả góp hàng tháng cho ngân hàng bằng lương của e qua chuyển khoản, chồng e không trả và cũng k gửi tiền nuôi con, hiện cháu đang sống ở nhà ngoại. Vậy luật sư cho e hỏi : khi li hôn tòa sẽ chia tài sản đó như thế nào? Em xin cảm ơn ơn anh/ chị rất nhiều!

>> Vấn đề cần xác định là nguồn gốc của mảnh đất để xác định nó là tài sản chung hay tài sản riêng và khi ly hôn có bị chia hay không. Nếu bạn chứng minh được đó là tài sản riêng của bạn theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản này sẽ không bi chia sau khi ly hôn và ngược lại.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hai vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 2010, đã có với nhau một đứa con chung, năm nay 6 tuổi, trước khi lấy nhau, chồng tôi đã có tài sản riêng là 5 sào cà phê, vậy khi chúng tôi ly hôn, tài sản riêng đó có được tính là tài sản chung hay không, vì chúng tôi đã lấy nhau được 7 năm rồi, tôi nghe nói có phải lấy nhau qua 4 năm, tài sản riêng cũng được xem là tài sản chung, vậy điều đó đúng không? Kính mong quý luật sư giúp đỡ để tôi hiểu được vấn đề này. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Pháp luật không có quy định nào về việc vợ chồng sau khi lấy nhau 4 năm thì tài sản riêng đương nhiên trở thành tài sản chung. Về nguyên tắc tài sản này là tài sản riêng của chồng bạn, nó chỉ trở thành tài sản chung nếu vợ chồng bạn thỏa thuận nhập nó vào khối tài sản chung của hai vợ chồng thì nó mới được coi là tài sản chung và khi ly hôn mới được chia đôi theo quy định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Quyền yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung ?

Kính thưa luật sư. Con có một người bạn tên là T, kết hôn với vợ năm 2015, hiện tại vợ T mới sinh em bé được 3 tháng. Lúc vợ T đang mang thai, bên nhà mẹ vợ nói với bên nhà T là khi vợ T sinh em bé thì cho về bên nhà mẹ ruột ở, đến đầy tháng thì về nhà T ở, nhà T đồng ý. Nhưng sau khi đầy tháng thì nhà mẹ vợ của T không cho vợ T về bên nhà T mà bắt T phải về bên nhà vợ ở. Gia đình T và T không đồng ý, kể từ lúc đó hai bên gia đình xảy ra xích mích. Lúc đó T có nói với vợ là muốn 2 vợ chồng ra riêng, vợ T cũng đồng ý nhưng vợ T chỉ muốn ra riêng ở bên nhà vợ. Sau khi xảy ra mâu thuẫn thì mỗi lần T qua nhà vợ, cha mẹ vợ đều không cho T vô nhà và ngăn cản không cho nói chuyện với vợ và thăm con. Đến nay T muốn làm đơn xin ly hôn.
Nhờ luật sư tư vấn giúp bạn con là trong trường hợp này bạn con có ly hôn được không ? Và nếu ly hôn thì tài sản và con chung sẽ được giải quyết như thế nào ? T có kể thì sau khi kết hôn 2 vợ chồng có bán số trang sức mà 2 họ cho trong ngày cưới và thêm một số tiền bên gia đình T cho để mua một miếng đất và người đứng tên là vợ T.
Rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư.

Chồng yêu cầu ly hôn và chia tài sản chung khi có mâu thuẫn với gia đình vợ ?

Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Như vậy, việc gia đình vợ T không cho T gặp và chăm sóc con là trái quy định của pháp luật. Trong trường hợp này T không thể yêu cầu đơn phương ly hôn do khoản 3 điều 51 Luật Hôn nhân gia đình không cho phép người chồng yêu cầu ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi ( mà hiện tại con của T mới 3 tháng tuổi). Tuy nhiên nếu T cùng vợ có thể thỏa thuận để cùng yêu cầu ly hôn thì khi xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Trong trường hợp vợ chồng T thuận tình ly hôn, thì toàn bộ tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ là tài sản chung của 2 vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn được quy định tại điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình như sau:

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này

Do đó mặc dù miếng đất đứng tên vợ T nhưng do là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định thì cả miếng đất và những tài sản chung khác đều được chia đều cho cả vợ và chồng.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn phân chia tài sản chung với gia đình chồng khi ly hôn ?

Kính chào luật sư! tôi có một vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn giúp : Vợ chồng tôi lấy nhau được hơn hai năm. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đã quyết định ly hôn.
Chồng tôi ở Thanh Hoá còn tôi ở Hà Nội. khi mới kết hôn vợ chồng tôi sống tại nhà tôi ở Hà Nội vì nhà ở Thanh Hoá đang xây dựng. Khi xây dựng xong vợ chồng tôi đã về sinh sống tại Thanh Hóa. Quyền sử dụng đất mang tên bố chồng tôi nhưng ngôi nhà là do vợ chồng tôi góp sức xây nên. Rồi những vật dụng trong nhà đều là do vợ chồng tôi sắm sửa từ bàn ghế, tivi... đều rất giá trị. Vậy tôi muốn hỏi khi ly hôn tôi có được phân chia tài sản không?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.H

Tư vấn phân chia tài sản sau khi ly hôn mà tài sản chung với  gia đình ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như sau:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Theo quy định trên cộng với tình hình cụ thể của vợ chồng bạn thì 2 vợ chồng bạn do đã bỏ tiền ra xây căn nhà cũng như mua sắm đồ đạc trong nhà nên phần tài sản của 2 vợ chồng bạn có thể xác định được trong khối tài sản chung với gia đình bố mẹ chồng của bạn vì chỉ có mảnh đất là của bố mẹ chồng bạn thôi. Chính vì vậy, sau khi xác định cụ thể số tài sản riêng của 2 vợ chồng bạn trong khối tài sản chung của gia đình chồng bạn thì sẽ tiến hành chia tài sản sau khi ly hôn của 2 vợ chồng bạn theo điều 59 luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."


Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?