Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và thương mại điện tử đã tạo ra những biến đổi căn bản trong quan hệ dân sự – thương mại truyền thống. Một trong những biểu hiện rõ nét của sự chuyển đổi đó là sự ra đời và phổ biến của hợp đồng điện tử – hình thức giao kết sử dụng phương tiện điện tử để thể hiện và xác lập ý chí giữa các bên. Với đặc tính “phi giấy tờ”, “phi lãnh thổ” và “tức thời”, hợp đồng điện tử mở ra cơ hội to lớn cho nền kinh tế số, đồng thời đặt ra nhiều thách thức cho hệ thống pháp luật trong việc xác định giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành của loại hợp đồng này.
Tại Việt Nam, việc thừa nhận và điều chỉnh hợp đồng điện tử đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Luật Giao dịch điện tử và các Nghị định hướng dẫn thi hành, tạo nền tảng pháp lý cho việc công nhận tính hợp pháp, giá trị chứng cứ và hiệu lực thi hành của hợp đồng điện tử trong mọi lĩnh vực. Việc phân tích giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử là yêu cầu cần thiết nhằm hiểu rõ cơ sở pháp lý, phạm vi áp dụng, cũng như bảo đảm sự an toàn, tin cậy trong giao kết điện tử.
1. Hợp đồng điện tử là gì?
Khoản 1 Điều 34 Luật Giao dịch điện tử 2023 (LGDĐT) ghi nhận: "Hợp đồng điện tử được giao kết hoặc thực hiện từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với người hoặc giữa các hệ thống thông tin với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện và hợp đồng".
Hợp đồng điện tử (HĐĐT) là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu. Khác biệt cốt lõi giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng giấy nằm ở việc thiết lập và lưu trữ thông tin. Để được công nhận, thông điệp dữ liệu phải có khả năng truy cập, kiểm tra, trích xuất và sử dụng dưới hình thức có thể đọc được.
Việc giao kết hợp đồng được tiến hành theo quy định tại Điều 35 của LGDĐT 2023. Các bên sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điện tử
Để HĐĐT được công nhận có hiệu lực pháp luật, nó phải thỏa mãn đồng thời bốn điều kiện chung của giao dịch dân sự theo Bộ luật Dân sự 2015 và các điều kiện đặc thù về hình thức thông điệp dữ liệu theo Luật Giao dịch điện tử 2023.
Điều kiện về chủ thể hợp đồng: Chủ thể phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp. Đối với cá nhân, năng lực này được phân loại theo độ tuổi, yêu cầu đồng ý của người đại diện đối với người chưa thành niên hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đối với pháp nhân, HĐ ĐT phải được xác lập thông qua người đại diện hợp pháp và trong phạm vi hoạt động của pháp nhân đó.
Điều kiện về ý chí tự nguyên: Các bên tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự do ý chí, tự nguyện thỏa thuận về nội dung giao dịch, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép từ phía bên kia hoặc bên thứ ba. Trong giao dịch điện tử, ý chí tự nguyện thường được thiết lập và ghi nhận thông qua các cơ chế xác thực chặt chẽ (như mã OTP hoặc xác nhận nhiều bước) để đảm bảo chủ thể ký đã thể hiện sự chấp thuận rõ ràng tại thời điểm ký kết.
Điều kiện về nội dung và mục đích: Mục đích và nội dung của hợp đồng phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật được hiểu là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện hành vi nhất định, còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận. Để đảm bảo điều kiện này, HĐĐT phải được ký kết và lưu trữ trong trạng thái đảm bảo tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu, không bị thay đổi sau khi ký kết.
Điều kiện về hình thức: Điều 119 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản. LGDĐT 2023 cụ thể hóa cách thức để "Thông điệp dữ liệu" đạt được tư cách "văn bản" hợp pháp, chủ yếu thông qua việc sử dụng chữ ký điện tử an toàn. Nếu các bên không tuân thủ các quy định về chữ ký điện tử an toàn theo LGDĐT 2023, điều kiện hình thức bị xem là vi phạm, dẫn đến HĐĐT có nguy cơ bị tuyên bố vô hiệu theo BLDS 2015. Cần lưu ý rằng, đối với một số loại hợp đồng dân sự mà pháp luật yêu cầu phải được công chứng, chứng thực, các bên vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về hình thức đó.
3. Giá trị pháp lý của Hợp đồng điện tử
Căn cứ vào quy định tại Điều 7, 8, 9, 10 LGDĐT 2023, thì giá trị pháp lý của dữ liệu trong hợp đồng điện tử nếu không bị sai về mặt quy định theo pháp luật thì có giá trị tương đương như văn bản, có giá trị pháp lý như bản gốc và được dùng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Căn cứ theo quy định tại Điều 34 LGDĐT 2023, hợp đồng điện tử vẫn được công nhận giá trị pháp lý giống như hợp đồng văn bản thông thường dù không có sự can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể hay vào hợp đồng.
Giá trị pháp lý của HĐĐT phụ thuộc rất lớn vào tiêu chuẩn an toàn của chữ ký điện tử được sử dụng. LGDĐT 2023 đã phân loại và quy định rõ ràng giá trị pháp lý của các loại chữ ký.
Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã khái quát hóa và phân loại chữ ký điện tử thành ba nhóm chính:
- Chữ ký điện tử (CKĐT): Là khái niệm rộng nhất. Nguyên tắc là CKĐT không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng điện tử.
- Chữ ký điện tử chuyên dùng: CKĐT được tạo ra và sử dụng trong hoạt động của một cơ quan, tổ chức nhất định.
- Chữ ký số (CKS): Là loại chữ ký điện tử cao cấp nhất, bắt buộc phải đáp ứng đủ các yêu cầu an toàn kỹ thuật nghiêm ngặt.
Chỉ có Chữ ký số và Chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn mới được công nhận có giá trị pháp lý tương đương chữ ký của cá nhân đó trong văn bản giấy.
Để đạt được sự tương đương này, CKS phải đáp ứng đầy đủ sáu điều kiện kỹ thuật và pháp lý sau :
- Xác nhận chủ thể và chấp thuận: Phải xác nhận được chủ thể ký và khẳng định sự chấp thuận của chủ thể đối với thông điệp dữ liệu.
- Gắn kết duy nhất: Dữ liệu tạo chữ ký số phải gắn duy nhất với nội dung của thông điệp dữ liệu được chấp thuận.
- Kiểm soát khóa bí mật: Dữ liệu tạo chữ ký số phải thuộc sự kiểm soát hoàn toàn của chủ thể ký tại thời điểm ký.
- Bảo toàn tính toàn vẹn: Mọi thay đổi đối với thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký phải có khả năng bị phát hiện.
- Bảo đảm bởi chứng thư số: CKS phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số (do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng hoặc chuyên dùng công vụ cấp).
- Phương tiện tạo CKS an toàn: Phương tiện này phải đảm bảo dữ liệu tạo CKS không bị tiết lộ, thu thập, sử dụng cho mục đích giả mạo chữ ký và chỉ được sử dụng một lần duy nhất.
LGDĐT 2023 chuyển dịch trọng tâm từ việc chứng minh ý chí tự nguyện (vốn là công việc của Tòa án) sang việc chuẩn hóa tính an toàn kỹ thuật của chữ ký số. Điều này đặt trách nhiệm chứng minh lên vai các nhà cung cấp dịch vụ và hệ thống kỹ thuật.
4. Quy định về nhận, gửi, thời điểm, địa điểm nhận, gửi thông điệp dữ liệu trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
Căn cứ theo quy định tại Điều 37 Luật Giao dịch điện tử 2023 quy định về việc nhận, gửi, thời điểm, địa điểm nhận, gửi thông điệp dữ liệu trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử theo như sau:
Việc nhận, gửi, thời điểm, địa điểm nhận, gửi thông điệp dữ liệu trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử được thực hiện theo quy định tại các Điều 17, 18, 19 và 20 Luật Giao dịch điện tử 2023.
Trong trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thỏa thuận khác thì thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu được quy định như sau:
- Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo;
- Địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cá nhân. Trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ sở thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.
Người nhận thông điệp dữ liệu là người được chỉ định nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạo thông điệp dữ liệu nhưng không bao hàm người trung gian chuyển thông điệp dữ liệu đó.
Trong trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thỏa thuận khác thì việc nhận thông điệp dữ liệu được quy định như sau:
+ Người nhận được xem là đã nhận được thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được;
+ Người nhận có quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu nhận được là một thông điệp dữ liệu độc lập, trừ trường hợp thông điệp dữ liệu đó là bản sao của một thông điệp dữ liệu khác mà người nhận biết hoặc buộc phải biết thông điệp dữ liệu đó là bản sao;
+ Trường hợp trước hoặc trong khi gửi thông điệp dữ liệu, người khởi tạo có yêu cầu hoặc thoả thuận với người nhận về việc người nhận phải gửi cho mình thông báo xác nhận khi nhận được thông điệp dữ liệu thì người nhận phải thực hiện đúng yêu cầu hoặc thỏa thuận này;
+ Trường hợp trước hoặc trong khi gửi thông điệp dữ liệu, người khởi tạo đã tuyên bố thông điệp dữ liệu đó chỉ có giá trị khi có thông báo xác nhận thì thông điệp dữ liệu đó được xem là chưa gửi cho đến khi người khởi tạo nhận được thông báo của người nhận xác nhận đã nhận được thông điệp dữ liệu đó;
+ Trường hợp người khởi tạo đã gửi thông điệp dữ liệu mà không tuyên bố về việc người nhận phải gửi thông báo xác nhận và cũng chưa nhận được thông báo xác nhận thì người khởi tạo có thể thông báo cho người nhận là chưa nhận được thông báo xác nhận và ấn định khoảng thời gian hợp lý để người nhận gửi xác nhận;
Nếu người khởi tạo vẫn không nhận được thông báo xác nhận trong khoảng thời gian đã ấn định thì người khởi tạo có quyền xem là chưa gửi thông điệp dữ liệu đó.
Trong trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thỏa thuận khác thì thời điểm, địa điểm nhận thông điệp dữ liệu được quy định như sau:
- Trường hợp người nhận đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận là thời điểm thông điệp dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định; Nếu người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận;
- Địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở của người nhận nếu người nhận là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú thường xuyên của người nhận nếu người nhận là cá nhân. Trường hợp người nhận có nhiều trụ sở thì địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.
Trong trường hợp người khởi tạo hoặc người nhận chỉ định một hoặc nhiều hệ thống thông tin tự động gửi hoặc nhận thông điệp dữ liệu thì việc gửi, nhận thông điệp dữ liệu được thực hiện theo quy định tại các điều 16, 17, 18 và 19 Luật Giao dịch điện tử 2023
5. Một số rủi ro khi giao kết hợp đồng điện tử
Giao kết bất kỳ hợp đồng nào, bao gồm cả hợp đồng điện tử, đều tiềm ẩn những rủi ro, và doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến 5 rủi ro sau để tránh thiệt hại.
Mặc dù hợp đồng điện tử được công nhận có giá trị pháp lý như hợp đồng giấy theo luật giao dịch điện tử và pháp luật về hợp đồng, nhưng việc không hiểu rõ về các quy định về chữ ký điện tử có thể dẫn đến việc chấp nhận các loại chữ ký không được chứng thực hoặc không có giá trị pháp lý. Điều này có thể khiến hợp đồng trở nên vô hiệu do chữ ký không thể xác minh được người ký và sự chấp thuận của họ đối với nội dung thông điệp dữ liệu.
Hiệu lực của hợp đồng điện tử phụ thuộc vào việc các chủ thể giao kết hợp đồng có tư cách pháp nhân và có đủ quyền đại diện cho đơn vị hoặc doanh nghiệp đó. Điều này đặt ra rủi ro khi các chủ thể không đảm bảo việc ký hợp đồng theo nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng, hay khi họ không có đầy đủ quyền đại diện. Một trong những rủi ro phổ biến khi giao kết hợp đồng điện tử là khi người ký không phải là người đại diện hợp pháp của đơn vị doanh nghiệp hoặc không có ủy quyền hợp pháp.
Quá trình tạo lập, truyền, nhận, và lưu trữ thông tin điện tử có thể gặp sự cố như mất kết nối internet, hỏng hóc thiết bị kỹ thuật, hoặc thiết bị không đọc được dữ liệu. Những vấn đề này có thể ảnh hưởng đến quá trình giao kết hợp đồng điện tử và đòi hỏi sự chú ý đặc biệt từ phía doanh nghiệp.
Bảo mật thông tin điện tử là một trong những yếu tố quan trọng khi giao kết hợp đồng điện tử. Tình trạng tấn công từ tin tặc vào hệ thống máy chủ, sử dụng các chương trình phá hoại hoặc đoạn mã nguy hiểm để lấy cắp thông tin có thể đặt doanh nghiệp vào tình huống rủi ro nghiêm trọng. Quản lý hợp đồng theo phân cấp và đảm bảo an ninh thông tin là cực kỳ quan trọng để bảo vệ các thông tin quan trọng khỏi bị rò rỉ.
Kết luận
Có thể thấy rằng, giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã được xác lập rõ ràng và thống nhất, thể hiện tư duy pháp lý tiến bộ, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế số. Việc công nhận hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng truyền thống không chỉ khẳng định vai trò của công nghệ trong hoạt động giao kết dân sự – thương mại, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy niềm tin trong môi trường giao dịch trực tuyến.
Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến đáng ghi nhận, vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện như cơ chế xác thực, bảo mật dữ liệu, trách nhiệm của bên thứ ba cung cấp nền tảng điện tử, và quy định cụ thể về chứng cứ điện tử trong tố tụng. Chỉ khi những vấn đề đó được giải quyết đồng bộ, hợp đồng điện tử mới thực sự trở thành công cụ pháp lý vững chắc, đảm bảo an toàn, minh bạch và công bằng trong mọi hoạt động giao kết của xã hội số.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Giá trị pháp lý đối với hợp đồng điện tử theo pháp luật Việt Nam mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!