Câu 2: Công ty hợp danh AB (Giám đốc là A, B là thành viên hợp danh) và công ty TNHH Sao Băng thỏa thuận ký kết với nhau 1 hợp đồng cung ứng dịch vụ trị giá 5 tỷ. Đến thời điểm ký hợp đồng A đi vắng và không có giấy ủy quyền nhưng B vẫn ký hợp đồng với đại diện công ty Sao Băng nói trên nhân danh công ty. Hợp đồng nói trên có vô hiệu vì ký kết không đúng thẩm quyền hay không? Giả sử sau khi ký hợp đồng B chết, hợp đồng có hiệu lực khồng?

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê. Với vấn đề của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật doanh nghiệp 2014

2. Nội dung tư vấn:

Câu 1:

>> Xem thêm:  Những điều cần biết mua lại công ty trách nhiệm hữu hạn.

a/ Tổng giám đốc công ty cổ phần có thể kiêm giám đốc công ty TNHH là đúng, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Vì:

Theo Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì không có quy định nào cấm Tổng giám đốc của Công ty cổ phần làm Tổng giám đốc/ Giám đốc của Công ty trách nhiệm hữu hạn. Do đó, Tổng giám đốc công ty cổ phần có thể kiêm giám đốc công ty TNHH nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.

b/ Trong các loại hình doanh nghiệp, quy chế trách nhiệm vô hạn chỉ áp dụng cho chủ doanh nghiệp tư nhân là sai. Vì:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 183 Luật doanh nghiệp năm 2014

Điều 183. Doanh nghiệp tư nhân

1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Theo đó, doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ sở hữu và và có chế độ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm vô hạn). Ngoài ra thì công ty hợp danh cũng sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn (chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty) đối với phần vốn góp của mình trong công ty. Cụ thể căn cứ vào điểm b, c khoản 1, Điều 172 Luật doanh nghiệp năm 2014

Điều 172. Công ty hợp danh

1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:

... b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

>> Xem thêm:  Mẫu giấy đề nghị chấp thuận chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp (Phụ lục 12)

c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

Trong công ty hợp danh, có hai loại thành viên là thành viên hợp danh và thành viên góp vốn, trong đó:

+ Thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty nên pháp luật quy định thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, tức trách nhiệm tài sản vô hạn.

+ Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp, tức là chịu trách nhiệm tài sản hữu hạn.

Như vậy, công ty hợp danh bao gồm hai chế độ là chế độ trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn.

Câu 2:

Hợp đồng trên không vô hiệu, vì căn cứ theo điểm b khoản 1 điều 176 của Luật doanh nghiệp 2014 thì thành viên của công ty hợp danh có quyền tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng mà thành viên đó cho rằng có lợi nhất cho công ty.

"Điều 176. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh

1. Thành viên hợp danh có các quyền sau đây:

b) Nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; đàm phán và ký kết hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty;

>> Xem thêm:  Vấn đề chia lợi nhuận trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài ?

Do B cũng là thành viên hợp danh của công ty hợp danh AB nên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp nên B vẫn có quyền nhân danh công ty để ký kết hợp đồng với bên Sao Băng mà không cần có giấy ủy quyền. Do đó hợp đồng giữ B ký với đại diện công ty Sao Băng vẫn đúng thẩm quyền.

Trong trường hợp sau khi ký hợp đồng B chết thì hợp đồng vẫn có hiệu lực do về bản chất hợp đồng này là hợp đồng của công ty hợp danh AB, B chỉ là người đại diện hợp pháp tham gia ký kết việc thực hiện hợp đồng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Tư vấn về thành viên góp vốn công ty cổ phần ?