1. Giải quyết về việc phân chia tài sản chung khi ly hôn ?

Thưa luật sư, em và chồng em kết hôn hồi tháng 3/2015 đến nay có 1 cháu mới được 2 tháng. Do vợ chồng em công việc không có, chồng lại ham chơi games nên vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Nay không thể chung sống với nhau nữa, trong thời gian chung sống 2 vợ chồng có mua được 1 miếng rẫy cà phê 550 cây trị giá 350 triệu.
Xin luật sư tư vấn cách chia tài sản và nợ chung khi ly hôn ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

1.1 Xác định nghĩa vụ trả nợ khi ly hôn:

Thứ nhất về nghĩa vụ trả nợ: Căn cứ Điều 60 Bộ luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn:

"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết".

Như vậy, theo khoản 1 Điều này, trong trường hợp vợ chồng bạn và bố mẹ bạn không có thỏa thuận gì khác thì nghĩa vụ tài sản của vợ chồng bạn đối với khoản nợ vay từ bố mẹ bạn vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn. Cụ thể, sau khi ly hôn, bạn và chồng bạn đều phải có nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền vay từ bố mẹ bạn.

1.2 Xác định người nuôi con sau ly hôn như thế nào ?

Căn cứ Điều 81 Bộ luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1.Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Trường hợp khi ly hôn con của bạn dưới 36 tháng tuổi thì Tòa sẽ tuyên quyền nuôi con thuộc về bạn (căn cứ khoản 3 Điều 81) trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho con mình... hoặc hai vợ chồng bạn có thể thỏa thuận khác.

1.3 Xác định nghĩa vụ cấp dưỡng của người còn lại

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

"1.Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó".

Như vậy, Tòa sẽ tuyên người còn lại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con theo khoản 2 Điều này.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

"1.Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".

Tiền cấp dưỡng nuôi con được quy định tại mục 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP như sau:

"Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý...".

Khi quyết định mức tiền phải cấp dưỡng, Tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong trường hợp mức cấp dưỡng nuôi con tòa án phán quyết vẫn vượt quá khả năng của người cấp dưỡng thì người cấp dưỡng có quyền làm đơn đề nghị tòa án xem xét lại mức cấp dưỡng.

Như vậy, pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể mức cấp dưỡng mà Tòa án sẽ xem xét mức cấp dưỡng trong từng trường hợp cụ thể.Mặt khác, bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng nếu không thể thỏa thuận được Tòa sẽ giải quyết trên cơ sở có sự yêu cầu của bạn hoặc chồng bạn.

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

2. Chia tài sản chung khi ly hôn có chia cho các con không ?

Chào luật sư Minh Khuê! Hiện nay bố mẹ em đang muốn ly hôn. Bố em ngoại tình (nhưng không có bằng chứng), bố mẹ đã ly thân 4 năm. Trong 4 năm qua rất nhiều lần bố em kiếm chuyện về gây sự rất áp lực. Bố mẹ em là bộ đội, mẹ em được đơn vị phân đất, tiền xây nhà hay mua sắm đồ đạc trong nhà đều là tiền của mẹ nhưng trong sổ đỏ tên mẹ em đứng đầu và tên bố thứ hai.
Nay bố em đòi ly hôn và đòi chia đôi nhà, xin luật sư tư vấn cho em liệu bố em có được chia đôi không và mẹ em không muốn bán nhà chia tài sản hoặc chia đều phần cho các con thì làm sao ạ ?
Em cảm ơn!

>> Tư vấn pháp luật hôn nhân về chia tài sản chung, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

- Như vậy căn nhà và đất này được xác định là tài sản chung của vợ chồng, đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên bố và mẹ, do đó bố mẹ bạn khi ly hôn hoàn toàn có quyền phân chia khối tài sản chung này.

- > Nguyên tắc chia tài sản chung bạn có thể tham khảo :

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

-> Như vậy việc mẹ bạn được phép bán tài sản chung của 2 người đi dể chia cho các con khi và chỉ khi bố mẹ bạn đồng ý thỏa thuận được với nhau. Còn nếu bố bạn không thỏa thuận được về phân chia tài sản thì có thể có quyền yêu cầu tòa án phân chia giải quyết.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn có được phân chia tài sản bố mẹ chồng đã cho chồng không ?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

3. Xác định tài sản chung sau khi ly hôn của vợ chồng do cha mẹ đứng tên ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê, Quý công ty cho tôi hỏi về trường hợp của tôi như sau: Tôi ở Quảng Nam lấy vợ ở Đà Nẵng. Kết hôn năm 2006, Sau khi kết hôn vợ chồng tôi thuê trọ ở Đà Nẵng. Năm 2010 vợ chồng tôi Mua 1.500 mét vuông đất nông nghiệp ở Đà Nẵng. Vợ chồng tôi thỏa thuận Nhờ cha mẹ đứng tên giùm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhưng không có thỏa thuận khác kèm theo).
Năm 2014 tôi yêu cầu cha mẹ Vợ sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi nhưng ông không đồng ý. Sau đó tôi viết đơn kiến nghị gửi đến Ủy ban nhân dân xã nơi cha mẹ vợ cư trú giải quyết việc cha mẹ vợ không đồng ý sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi. Khi ban nhân dân xã mời cha mẹ vợ đến giải quyết hòa giải theo đơn kiến nghị của tôi Thì ông trả lời như sau[ 1.500 mét vuông đất ruộng đó ông đứng dùm cho con gái và con rể muốn ông sang tên quyền sử dụng đất thì phải trả cho ông 20 triệu đồng tiền nợ ] nói rồi ông ký vào biên bản hòa giải. Tôi cũng ký vào biên bản hòa giải. trong biên bản hòa giải cũng có ghi Câu nói này của ông. thành phần của ủy ban xã tham dự có: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Chủ tịch mặt trận xã. Chủ tịch Hội phụ nữ xã. Trưởng phòng địa chính xã. Chủ tịch hội nông dân xã. Trưởng công an xã. Đại diện văn hóa xã. Đại diện Tổ tiếp nhận hồ sơ công dân xã. Đại diện Đoàn thanh niên xã. Sau đó tôi bàn bạc với vợ trả số nợ nói trên cho cha mẹ vợ để được sang tên quyền sử dụng đất. Nhưng vợ tôi không đồng ý rồi viết đơn li hôn gửi tới tòa án nơi chúng tôi đăng ký tạm trú.
Trong đơn li hôn vợ tôi không thừa nhận số nợ trên. Vợ tôi cũng không thừa nhận diện tích đất nông nghiệp đó là tài sản chung mà nói là đất của cha mẹ vợ không liên quan đến Vợ Tôi . Khi tòa án Mời cho mẹ vợ đến với tư cách là người liên quan. Thẩm phán tòa án hỏi ông là: 1500 mét vuông đất nông nghiệp này là của ai.( Thì ông nói là của ông. Biên bản hòa giải đó không có giá trị).
Vậy luật sư cho tôi biết theo biên bản hòa giải mà cha mẹ vợ đã ký thì diện tích đất nông nghiệp đó có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi không ? Số tiền nợ mà tôi đã ký trong biên bản hòa giải là nợ riêng của tôi hay là nợ chung của vợ chồng tôi ?
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ khoản 16 điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định:

16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Theo quy định trên, trường hợp bạn không có căn cứ khác thì người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được coi là chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó. Tuy nhiên, đối với trường hợp này không biết bạn còn hợp đồng chuyền giao quyền sử dụng đất khi bạn mua đất từ người chủ trước hay không? Nếu còn, bạn có thể xử lý như sau:

Thứ nhất, bạn cần gửi đơn khởi kiện đòi lại khoản tiền mua đất đó đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất.

Thứ hai, cung cấp bản sao hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tòa án (đây là chứng cứ chứng minh bạn là chủ sở hữu số tiền mua đất đó).

Đối với khoản tiền mà vợ chồng bạn bỏ ra để mua đất trong thời kỳ hôn nhân thì theo quy định tại khoản 1 điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Theo quy định này thì khoản tiền dùng để mua 1500m2 đất của vợ chồng bạn là tài sản chung của vợ chồng và bạn có thể đòi lại khoản tiền này.
Về số tiền nợ trong biên bản hòa giải thì khi bố vợ bạn phủ nhận biên bản hòa giải điều đó đồng nghĩa với việc bạn cũng không còn nghĩa vụ gì với khoản nợ được nêu trong biên bản hòa giải ấy nữa, cho nên, bạn không cần phải lo lắng về vấn đề này.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Tư vấn xác định tài sản chung và riêng trong hôn nhân ?

Thưa luật sư, Em xin chào ạ. Em có một tình huống, mong nhận được sự giúp đỡ từ các luật gia như sau: Trong thời kỳ hôn nhân, em mua 1 căn nhà với giá 3 tỷ đồng, trong đó 2 tỷ được trả bằng tiền bán đồ trang sức do cha, mẹ tặng cho riêng, phần còn lại được trả bằng tài sản chung.
Trong điều kiện em và chồng không có thỏa thuận, xác định căn nhà mua được là tài sản chung hay tài sản riêng ?
Em xin chân thành cảm ơn. Chúc công ty luật luôn luôn thành công.

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định Tài sản chung của vợ chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, căn nhà được mua trị giá 3 tỷ, trong đó 2 tỷ được trả bằng tiền tặng bán đồ trang sức do mẹ bạn tặng cho riêng. Phần tài sản này là tài sản của riêng bạn nhưng bạn lại gộp chung số tiền này vào để mua nhà nên đã hình thành nên tài sản giữa hai vợ chồng bạn, tài sản này được gộp vào nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu gia đình thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng nên được coi là tài sản chung vì ngay từ đầu bạn và chồng không có thỏa thuận nào khác. Mặt khác, Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng. Do 2 vợ chồng bạn không có thỏa thuận mà cần có tách biệt tài sản thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung và riêng trong thời kì hôn nhân theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Việc ly hôn và chia tài sản chung khi chồng hăm dọa giết gia đình vợ ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê!!! Tôi muốn nhờ công ty tư vấn giúp tôi nếu ly hôn thì tài sản sẽ phân chia như thế nào ? Tôi kết hôn từ năm 1989, chồng tôi ở rể tại gia đình tôi. Khi về ở rể chồng tôi không có tài sản gì, vì bố mẹ tôi không có con trai nên vợ chồng tôi về ở cùng.
Từ năm 2003-2013, tôi đi xuất khẩu lao động, mọi chi phí ăn học của các con, sinh hoạt trong gia đình đều do tôi gửi về. Sau đó tôi có mua 1 mảnh đất và tên trên sổ đỏ là tên tôi. Cách đây 3 tháng trước khi qua đời mẹ đẻ tôi đã sang tên sổ đỏ mảnh đất gia đình tôi đang sinh sống cho tôi. Ngoài ra chúng tôi không có tài sản gì đáng kể. Hiện tôi có 2 người con cũng đang xuất khẩu lao động, chồng tôi nghe kẻ xấu xúi bẩy, giờ chỉ ăn chơi không chịu lao động, lúc nào cũng đòi dựa dẫm vào tiền con tôi gửi về. Càng ngày tôi càng không chịu được lối sống đó của chồng nên muốn ly hôn. Khi tôi nói ra thì chồng tôi liên tục chửi bới, xúc phạm tôi. Anh ta liên tục hăm doạ nếu tôi ly hôn sẽ dùng xăng và mìn giết cả gia đình tôi. Hiện tôi rất hoang mang.
Kính mong quý công ty tư vấn giúp tôi nếu ly hôn trong trường hợp trên tài sản chúng tôi sẽ phân chia ra sao ? Việc chồng tôi liên tục hăm doạ xúc phạm tôi có bị xử lý không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được sự giúp đỡ!!!

>> Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

5.1 Về chia tài sản:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 quy định về tài chung vợ chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Điều 59 Luật hôn nhân gia đình quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn. Theo đó, tài sản của vợ chồng được chia theo thỏa thuận nếu các bên thỏa thuận được, trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Khoản 2, 3, 4 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình quy định:

"2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Điều 61 Luật hôn nhân gia đình quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình:

"1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Điều 62 Luật hôn nhân gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:

"1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật này."

Trong trường hợp của bạn, mảnh đất mà gia đình bạn đang sinh sống bạn có được cho nhận thừa kế của mẹ, đây được xem là tài sản của riêng bạn. Mảnh đất mà bạn mua trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung vợ chồng, do đó nếu bạn và chồng không tự thỏa thuận chia được sẽ chia theo những quy định trên.

5.2 Việc chồng bạn liên tục xúc phạm và hăm doạ giết cả gia đình:

Điều 103 Bộ Luật Hình sự 1999 quy định về tội đe dọa giết người như sau:

"1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe doạ lo sợ rằng việc đe doạ này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với trẻ em;

d) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác."

Như vậy, với việc liên tục chửi bới, xúc phạm và liên tục hăm doạ sẽ dùng xăng và mìn giết cả gia đình của chồng bạn thì anh ta có thể phải bị phạt vi phạm hành chính nếu bạn có căn cứ chính đáng cho hành vi đe dọa này cảu chồn. Việc truy tố trách nhiệm hình sự tại thời điểm này là chưa đủ căn cứ.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?