1. Quy định về giao dịch dân sự

Căn cứ theo quy định cảu Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 thì mọi hợp đồng đều là giao dịch dân sự, nhưng không phải mọi giao dịch dân sự sẽ là hợp đồng. Bởi vì nếu giao dịch của hai bên là hợp đồng. còn hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một chủ thể, do vậy hành vi pháp lý đơn phương không là hợp đồng giả sử như việc cá nhân lập di chúc để lại tài sản cho người được thừa kế theo chỉ định của mình. Hành vi pháp lý đơn phương được coi là giao dịch dân sự khi hành vi pháp lý đơn phương đó được tiến hành nhằm làm phát sinh một quyền hay nghĩa vụ dân sự của chủ thể được xác định.

2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Điều 17 Bộ luật dân sự quy định về 3 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

- Chủ thể có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Trong một vài trường hợp cụ thể thì hình thức của giao dịch dân sự cũng là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

>> Xem thêm:  Giao dịch dân sự vô hiệu là gì ? Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu ? Cho ví dụ

2.1 Chủ thể giao dịch dân sự là pháp nhân

Pháp nhân được hình thành từ sự liên kết của nhiều cá nhân, tổ chức. Chủ thể này tham gia vào giao dịch dân sự thông qua người đại diện của họ (đại diện theo pháp luật và theo uỷ quyền). Người đại diện của pháp nhân thông thường là cá nhân xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh pháp nhân. Các giao dịch dân sự do người đại diện hợp pháp xác lập làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân. Tuy nhiên, cũng giống như cá nhân, pháp nhân chỉ tham gia các giao dịch dân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân, phù hợp với năng lực chủ thể mà pháp luật ghi nhận cho pháp nhân. Người đại diện xác lập giao dịch dân sự làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân trong phạm vi nhiệm vụ của chủ thể đó được điều lệ hoặc pháp luật quy định. Những giao dịch dân sự được xác lập không nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân, pháp nhân sẽ không chịu trách nhiệm.

Cũng tương tự như cá nhân, khi pháp nhân tham gia vào các giao dịch dân sự cần có năng lực chủ thể phù hợp với giao dịch được xác lập. Năng lực chủ thể của pháp nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của pháp nhân.

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân. Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2015, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chê, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. Trước đây, tại Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

“Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình".

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 giới hạn năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân theo mục đích hoạt động của pháp nhân. Còn Bộ luật Dân sự hiện hành đã mở rộng năng lực pháp luật của pháp nhân. Do đó, về nguyên tắc, pháp nhân có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự mà pháp luật cho phép, không bị giới hạn theo mục đích hoạt động.

Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân: Từ thời điếm pháp nhân được thành lập họp pháp (từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập pháp nhân; hay nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký) thì năng lực hành vi dân sự của pháp nhân cũng phát sinh đồng thời cùng thời điểm phát sinh năng lực pháp luật dân sự. Đối với cá nhân, các cá nhân có độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi khác nhau thì mức độ năng lực hành vi dân sự cũng không giống nhau. Còn đối với pháp nhân, từ thời điểm pháp nhân được thừa nhận tư cách chủ thể thì các pháp nhân mặc nhiên được thừa nhận có năng lực hành vi dân sự.

Tóm lại, phạm vi xác lập giao dịch dân sự của pháp nhân nhìn chung không bị hạn chế, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong các quan hệ pháp luật dân sự còn có sự tham gia của Nhà nước, các cơ quan Nhà nước ở trung ương và ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác. Việc đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương tham gia quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Còn hộ gia đình, tổ hợp tác, tố chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì thành viên của hộ gia đình, tổ họp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

>> Xem thêm:  Cách yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu ?

2.2 Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí nên chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện trong việc thể hiện và bày tỏ ý chí của mình. Trước khi tham gia giao dịch dân sự, các chủ thể có quyền tự do quyết định tham gia hay không tham gia giao dịch dân sự, không bị chi phối hoặc không bị ép buộc, cấm đoán, đe doạ. “Tự nguyện” bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí. Nếu một trong hai yếu to này không có hoặc không thống nhất cũng không thể có tự nguyện. Sự tự nguyện của một bên (hành vi pháp lí đơn phương) hoặc sự tự nguyện của các bên trong một quan hệ dân sự (hợp đồng) là một trong các nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận"

Nguyên tắc của giao dịch nói riêng của pháp luật dân sự nói chung là tự do và tự nguyện. Các chủ thể tự do lựa chọn loại giao dịch, đối tượng, hình thức... để xác lập giao dịch, tuy nhiên sự tự do thể hiện ý chí phải nằm trong giới hạn luật định. Khi xác lập giao dịch, ý chí của các bên có thể không giống nhau và thậm chí mâu thuẫn nhau, vì thế để xác lập giao dịch, các chủ thể cần phải thỏa thuận thống nhất ý chí chung. Việc thỏa thuận này phải dựa trên sự tự nguyện của các bên, nếu vi phạm sự tự nguyện đó thì giao dịch có thể bị vô hiệu.

Sự tự nguyện củạ chủ thể trong giao dịch dân sự được thể hiện ở việc chủ thể được quyền quyết định lựa chọn loại giao dịch tham gia, được lựa chọn đối tác, được quyền thỏa thuận về các nội dung trong giao dịch...Không phải trong mọi trường hợp chủ thể trong giao dịch đều được bảo đảm yếu tố tự nguyện. Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến giao dịch dân sự vi phạm yếu tố tự nguyện, tức là không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí: Một là, chủ thể không bày tỏ ý chí thực của mình do bị tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài ví dụ như chủ thể bị đe dọa, cương ép, lừa dối...; Hai là, chủ thể cố tình không thể hiện đúng ý chí thực của mình nhằm che dấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Trường hợp này chủ thể không bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài hay tác động của các chủ thể khác mà do chính chủ thể không thể hiện ý chí đúng với ý chí bên trong của họ.

Các trường hợp dẫn đến triệt tiêu yếu tố tự nguyện của chủ thể trong giao dịch dân sự bao gồm: (1) Chủ thể xác lập giao dịch do bị nhầm lẫn; (2) Chủ thể xác lập giao dịch do bị lừa dối; (3) Chủ thể xác lập giao dịch do bị đe dọa; (4) Chủ thể xác lập giao dịch do bị cưỡng ép; (5) Chủ thể xác lập giao dịch trong tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; (6) Chủ thể xác lập giao dịch giả tạo. Khi giao dịch dân sự được xác lập mà không có yếu tố tự nguyện của chủ thể thì giao dịch có thể bị vô hiệu.

2.3 Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điếu cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội

Bộ luật Dân sự ghi nhận sự tự nguyện, sự tự do ý chí cho. các chủ thể trong việc giao kết hợp đồng nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu đối với mục đích của các bên chủ thể tham gia giao dịch cũng như nội dung mà các bên thỏa thuận.

“Mục đích” được hiểu là “cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được”. Dưới góc độ pháp lý, theo Điều 118 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thế mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Ví dụ: A bán ô tô cho B. Mục đích của A trong giao dịch là thu được khoản tiền từ việc bán chiếc xe; còn mục đích của B là được quyền sở hữu đối với chiếc xe. Còn nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản, các cam kết xác định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể, có tính chất ràng buộc các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự. Ví dụ: Trong hợp đồng cho vay tài sản, các nội dung chính của giao dịch này gồm: số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền và nghĩa vụ của các bên...

Mục đích và nội dung của giao dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chủ thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự luôn nhằm đạt được mục đích nhất định, ví dụ như xác lập quyền sở hữu đối với một tài sản, hoặc sử dụng một sản phẩm dịch vụ, tiện ích... Để đạt được mục đích thì các bên phải thỏa thuận nội dung của giao dịch hướng tới mục đích đã xác định. Ví dụ: Trong họp đồng mua bán nhà ở, mục đích mà các bên hướng tới là quyền sở hữu tài sản. Bên bán hướng tới quyền sở hữu số tiền bán nhà, bên mua hướng tới mục đích được sở hữu nhà. Để đạt được mục đích này họ phải thoả thuận được về nội dung của hợp đồng mua bán bao gồm các điều khoản như đối tượng (ngôi nhà), giá cả, thời hạn, địa điểm, phương thức giao tài sản, điều khoản về trách nhiệm do vi phạm họp đồng... Sự thoả thuận về các điều khoản nhằm đảm bảo cho mục đích mà các bên đặt ra trước đó có thể thực hiện được.

>> Xem thêm:  Quy định về việc phân định thẩm quyền của toà án dân sự theo lãnh thổ ?

Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch cần thỏa mãn hai điều kiện:

Thứ nhất, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Vi phạm điều cấm của luật là những hành vi đi ngược lại nguyên tắc xử sự mà luật quy định, người vi phạm có thể phải chịu hậu quả pháp lý tương ứng với hành vi vỉ phạm. Các bên không được thỏa thuận về các giao dịch mua bán ma túy, vũ khí hay các tài sản bị cấm lưu thông khác.

Thứ hai, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không trái đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, ví dụ: đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên; đạo hiếu nghĩa giữa con cái với cha mẹ... Chỉ những giao dịch chứa đựng các điều khoản không đi ngược lại các quy định pháp luật có liên quan, các bên chủ thể xác lập giao dịch dân sự không có mục đích trốn tránh nghĩa vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác giao dịch đó mới phát sinh hiệu lực. Ngược lại, những giao dịch có đối tượng không phù hợp, mục đích xác lập giao dịch dân sự của các chủ thể không nhằm tạo lập nên quyền và lợi ích hợp pháp thì không phát sinh hiệu lực. Những giao dịch dân sự có nội dung hoặc mục đích vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức của xã hội sẽ mặc nhiên vô hiệu.

Cũng cần lưu ý thêm, động cơ xác lập giao dịch và mục đích của giao dịch là khác nhau nhưng thường hay bị các chủ thể nhầm lẫn. Mục đích của giao dịch là lợi ích mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Mục đích của giao dịch là yếu tố xác định được khi các bên xác lập giao dịch. Mục đích của giao dịch phải hợp pháp. Trong khi đó, động cơ là yếu tố bên trong thúc đẩy chủ thể tham gia giao dịch. Động cơ của các chủ thể xác lập giao dịch không mang tính pháp lý. Nếu động cơ không đạt được cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch, trừ trường hợp các bên thoả thuận động cơ pháp lý là một điều khoản của giao dịch, là một bộ phận cấu thành của giao dịch đó. Động cơ của giao dịch có thể được xác định hoặc không được xác định khi các chủ thể xác lập giao dịch. Do đó, luật không điều chỉnh và không thể điều chỉnh được động cơ xác lập giao dịch. Nếu mục đích của giao dịch không được vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì điều kiện này không được đặt ra đối với động cơ. Điều đó được hiểu, động cơ không là yếu tố ảnh hưởng tới hiệu lực của giao dịch dân sự dù động cơ của chủ thể hợp pháp hoặc không. Ví dụ: Giao dịch mua bán nhà ở, mục đích của bên mua là được sở hữu nhà; còn người mua có động cơ sử dụng căn nhà đó để tiến hành các hoạt động mại dâm. Đối với giao dịch này, mục đích của chủ thể không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên giao dịch được công nhận hiệu lực.

2.4 Hình thức của giao dịch dân sự phải phù hợp với quy định cúa pháp luật

Khi giao dịch được xác lập, giao dịch dân sự cần phải được thể hiện dưới hình thức nhất định. Theo quy định của luật, giao dịch dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc hành vỉ cụ thể.

về nguyên tắc chung, người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng hình thức nhất định thì các bên giao kết giao dịch dân sự cần phải tuân hình thức luật định.

Các giao dịch trên thực tế đa dạng, phong phú và hầu hết các bên chủ thể được quyền lựa chọn hình thức giao kết giao dịch. Tuy nhiên, đối với một số giao dịch vì tầm quan trọng của giao dịch đó, giá trị tài sản giao dịch lớn hoặc cần sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước đối với giao dịch mà luật quy định giao dịch phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký. Ví dụ, khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

“Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kỉnh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự”.

Hay theo khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014:

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào được ủy quyền trong quan hệ dân sự ?

“Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyến nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.

Hiện nay, các giao dịch dân sự mà luật quy định hình thức bắt buộc thường có đối tượng là các bất động sản như quyền sử dụng đất, nhà ở. Riêng đối với trường hợp lập di chúc, luật quy định hai hình thức bao gồm: di chúc miệng và di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên, đối với trường hợp di chúc miệng thì các bên cần tuân thủ theo các điều kiện chặt chẽ do luật quy định.

Đối với các giao dịch dân sự mà luật quy định bắt buộc về hình thức mà các bên có sự vi phạm thì hợp đồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Do đó, khi các bên giao kết giao dịch, bên cạnh việc quan tâm tới yếu tố nội dung của giao dịch thì các bên cần tuân thủ hình thức giao dịch do luật định.

Làm rõ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

- Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân suChur thể của giao dịch là những người tham gia diao dịch là cá hân và pháp nhân và các chủ thể khác. Cá nhân tham gia giao dịch phải là người đã thành niên, người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, không pahri là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quân hệ giao dịch do mình xác lập. Những giao dịch dân sự do những người này xác lập có hiệu lực pháp luật.

Những cá nhân chưa thành niên, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do người đại diện của người đó xác lập.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 125 BLDS cũng quy định một số trường hợp cá biệt khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch đó không bị xác định là vô hiệu.

- Thứ hai: Về ý chí của chủ thể giao dịch: Theo quy định của BLDS thì chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện.

Sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tự nguyện là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối, và không bị người khác áp đặt ý chí. Chủ thể tham gia giao dịch tự ình lựa chọn chủ thể tham gia khác, đối tượng của giao dịch, lựa chọn giá cả, địa điểm và những vấn đề khác trong việc xác lập giao dịch dân sự.

- Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội sẽ bị xác định là vô hiệu.

>> Xem thêm:  Thủ tục mua bán nhà đất đang thế chấp tại ngân hàng như thế nào ?

- Thứ tư: Hình thức của giao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự sẽ không bị vô hiệu bởi hình thức trừ một số trường hợp yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Đối với quan hệ dân sự nói chung và quan hệ giao dịch nói riêng, quan trọng nhất là ý chí của chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch có tự nguyện hay không tự nguyện, chủ thể có đáp ứng được yêu cầu về chủ thể trong từng loại giao dịch không và nội dung của giao dịch do các bên thỏa thuận có vi phạm các điều cấm của pháp luật hay không. Những điều kiện về chủ thể, ý chí cảu chủ thể, mục đích và nội dung cần xác định để xác định một giao dịch dân sự có hiệu lực hay không.

Tuy nhiên, quy định ở khoản 2 điều 117 BLDS về hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Quy định này đã cởi mở và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự thực hiện đầy đủ các quyền dân sự của mình. Trên thực tế có những giao dịch hòa ntoafn phản ánh trung thực và khách quan ý chí tự nguyện của các bên, nhưng các bên lại không tuân thủ các quy định về hình thức nào đó mà giao dịch bị tuyên vô hiệu. Quy định về hình thức của giao dịch dân sự không rõ ràng là cơ hội cho những chủ thể không trung thực lạm dụng để hủy một giao dịch dân sự bất lợi cho mình hoặc dựa vào đó để mang lại những lợi ích vật chất có lợi cho mình mà gây thiệt hại cho người khác. Vì vậy, khoản 2 Điều 117 BLDS là một quy định không cứng nhắc và chỉ áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.

Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của Luật Minh Khuê. Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục xóa đăng ký thế chấp (giải chấp) quyền sử dụng đất theo quy định mới ?

Câu hỏi thường gặp về hiệu lực của giao dịch dân sự ?

Câu hỏi: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân quy định như thế nào?

Trả lời:

1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Câu hỏi: Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân như thế nào?

Trả lời:

1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.

2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.

3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Câu hỏi: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là gì?

Trả lời:

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.