1. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối ?

Xin chào luật sư, em có câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn:Trong gia đình em có 1 cặp vợ chồng li dị, tài sản chia 2. Nhưng vì không muốn mất tiền người vợ thỏa thuận với chị mình nhờ luật sư lập ra 1 bản thỏa thuân nội dung tài sản chia đôi nhưng lại kèm thêm 1 điều khoản, chồng mượn nợ chị vợ nên phần tài sản được chia đó sẽ thuộc về chị vợ (nửa tài sản = số tiền nợ chị vợ). Mục đích là để sau li hôn, có tiền, anh này sẽ phải trả cho chị vợ, mà chị vợ với vợ chung hội nên tiền sẽ về lại với tay vợ.
Đồng nghĩa sau li hôn, anh này không có bất cứ tài sản nào cả. Trong hợp đồng, có nói anh này vay nợ từ 2009 (thực tế khôn có),vợ anh lừa anh bảo nhờ con gái làm chứng, ký giấy tờ trong phòng, bảo rằng ký rồi sẽ về ở chung, tài sản chia ra, anh lại không biết chữ , nội dung anh nhờ con gái nói sơ, mà con lại theo phe mẹ cũng chưa đủ tuổi làm chứng cái gì, vậy là anh lăn tay vào mà không hề biết trong đó để mình nợ tiền ai, không hiểu luật, anh bảo rằng do không trước tòa, không có tòa làm chứng thì không có hiệu lực. Tiền nợ khống tương đối lớn, vì thực tế k có nợ nên không có bất cứ giấy tờ nào từ 2009-2016 xác nhận khoảng nợ ngoại trừ giấy anh mới bị lừa ký. Hợp đồng đó có hiệu lực hay không ?
Em xin chân thành cám ơn luật sư!
Người gửi: V.M

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”


Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 của Bộ luật này. Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào. Lừa dối, đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba trong quan hệ dân sự vi phạm nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự.

Trường hợp của bạn, hợp đồng có nói anh này vay nợ từ 2009 nhưng thực tế không có, đây là sự lừa dối vi phạm pháp luật dân sự. Do đó hợp đồng này vô hiệu. Theo Điều 132 của Bộ luật về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.” Và anh chồng này sẽ không có nghĩa vụ phải trả nợ.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại điều 137 Bộ luật dân sự 2005:

"Ðiều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

  1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
  2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về đòi đền bù mất xe ? Yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường tài sản bị mất

2. Bị lừa dối khi mua đất có đòi lại được tiền ?

Chào Luật sư, xin hỏi: Tháng 5/2018 tôi có được môi giới giới thiệu mua 1 mảnh đất ở mặt đường với diện tích 200m2. Khi đã ký kết hợp đồng xong xuôi và ra xem lại đất tôi mới phát hiện đó không phải là miếng đất tôi muốn mua. Tôi đã bị môi giới và chủ đất chỉ sang ô bên cạnh. Ô bên cạnh địa điểm xấu hơn rất nhiều. Tôi có yêu cầu người ta trả tiền lại cho tôi thi họ không đồng ý, nói đã mua rồi thì phải chịu. Bây giờ tôi phải làm sao để đòi đựợc tiền thưa luật sư ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Đồng thời, tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Khi có những căn cứ xác định rằng do chủ đất và môi giới có những hành vi lừa dối bạn, khiến bạn tin tưởng hiểu sai lệch về vị trí mảnh đất nên đã giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giao dịch dân sự này là vô hiệu. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là các bên trao trả cho nhau những gì đã nhận. Cụ thể, với trường hợp của bạn là bên chủ đất phải có trách nhiệm trả lại số tiền bạn đã mua đất.

Như vậy, để có thể được hòan lại khỏan tiền đã mua đất thì bạn phải tiến có những căn cứ về việc lừa dối ( thông qua các video, đoạn thoại, người làm chứng,.. về việc người này lừa dối bạn). Sau đó, bạn sẽ tiến hành làm đơn khởi kiện đến gửi Tòa án nhân dân quận/huyện nơi chủ đất cư trú để được giải quyết vấn đề trên.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

3. Có được rút vốn đã góp vào nhà hàng khi bị lừa dối ?

Xin chào Luật Sư,Luật sư vui lòng tư vấn dùm chúng tôi vấn đề sau: Hiện tại, nhà hàng Ấn Độ vẫn đang hoạt động tại quận 7. Chủ nhà hàng là người Ấn Độ (ông Jamal). Vì là người nước ngoài nên người này không tự đứng tên trên Giấy Phép Kinh Doanh được mà nhờ 1 người Việt Nam đứng tên thay. Do đó, giám đốc hiện tại của nhà hàng này là bà Thạch Thị Nhơn.
Sau đó, vì nhu cầu kinh doanh của nhà hàng này nên có thêm 1 người Ấn Độ nữa góp vốn 25,000 usd vào nhà hàng này. Người đầu tư mới (ông Imran) này đã đưa đủ 25,000 usd cho chủ nhà hàng (ông Jamal) này bằng tiền mặt, có chữ ký xác nhận của 3 bên (Ông Jamal, bà Nhơn & ông Imran, không có chữ ký của bất kỳ luật sư hay phía bên công an nào hết). Sau đó, bà Nhơn nhờ 1 công ty khác- Công ty TNHH DV Tư Vấn Viva soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng lại nhà hàng cho Ông Jamal & Ông Imran. Hợp đồng này có nói rõ là bà Nhơn chuyển nhượng lại toàn bộ nhà hàng (bao gồm hợp đồng nhà đất, quyền kinh doanh, tài sản của nhà hàng) cho 2 ông Jamal & Imran. Điều đó có nghĩa là ông Jamal sở hữu 50% & ông Imran sở hữu 50% nhà hàng này. Hợp đồng này đã được ký bởi ông Jamal, ông Imran, bà Nhơn và cả giám đốc công ty Viva. Chúng tôi cũng đã làm hồ sơ để nộp cho Sở Kế Hoạch Đầu Tư để xin điều chỉnh lại Giấy Phép Kinh Doanh nhưng chưa hoàn tất.
Trong thời gian chờ điều chỉnh Giấy Phép Kinh Doanh mới thì ông Jamal & bà Nhơn đã tự ý đến công ty Viva và nói dối rằng ông Jamal không đưa 25,000 vốn đầu tư như đã hứa và họ muốn điều chỉnh Giấy Phép Kinh Doanh chỉ đứng tên ông Jamal & bà Nhơn mà không có tên của ông Imran trong đó. Chỉ bằng lời nói thôi nhưng công ty Viva lại tin lời và tự ý làm đơn gửi đến Sở Kế Hoạch Đầu Tư điều chỉnh Giấy Phép Kinh Doanh trong khi ông Imran không hề hay biết về điều này (ông Imran đang ở Ấn độ). Hiện tại theo như giám đốc công ty Viva nói thì Giấy Phép Kinh Doanh mới này cũng chưa hoàn tất. Khi ông Imran đến gặp trực tiếp giám đốc công ty Viva thì vị giám đốc này mới vỡ lẽ là ông Jamal & bà Nhơn đã nói dối ông ấy. Và ông giám đốc này nói với ông Imran là bản thân ông giám đốc Viva này đã làm sai, nếu ông Imran muốn kiện thì ông giám đốc này sẵn sàng làm chứng trước tòa cho ông Imran. Vì chỉ muốn hòa giải nên ông Imran đã đến gặp ông Jamal & bà Nhơn để đòi lại 25,000 usd nhưng họ không chịu vì họ hiện không có tiền để trả lại. Ông Jamal & bà Nhơn nói rằng chỉ còn cách là ông Imran phải bỏ thêm tiền để mua lại nhà hàng này thì ông Jamal & bà Nhơn sẽ giao lại toàn bộ giấy tờ & nhà hàng cho ông Imran.

Tuy nhiên, ông Imran hiện tại chỉ muốn lấy lại tiền của mình. Kính thưa luật sư, Luật sư vui lòng tư vấn dùm chúng tôi những thắc mắc sau đây:

1. Trong quá trình nộp đơn điều chỉnh Giấy Phép Kinh Doanh (đứng tên của cả 3 người: ông Jamal, ông Imran & bà Nhơn) thì quyền lợi của ông Imran đã bị xâm hại. Như vậy cơ quan nào sẽ bảo vệ cho ông Imran?

2. Giám đốc công ty Viva đã làm sai, chúng tôi có thể kiện giám đốc công ty này?

3. Chúng tôi phải làm gì để lấy lại được vốn đầu tư 25,000 usd đã đưa cho ông Jamal & bà Nhơn?

4. Vui lòng tư vấn dùm chúng tôi giấy tờ, cũng như trình tự khi chúng tôi quyết định đưa vụ án này ra tòa.

Xin Luật Sư vui lòng tư vấn sớm dùm chúng tôi. Chúng tôi chân thành cảm ơn Luật Sư.

Người gửi: T V

>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn đưa ra cho chúng tôi thì ông Jamal, bà Nhơn và ông Imran đã cùng nhau ký kết một bản hợp đồng. Sau đó bà Nhơn và ông Jamal đã nói dối về vấn đề ông Imran " chưa đưa khoản tiền 25.000 USD" đó để mục đích cho ông Jamal và bà Nhơn đứng tên cửa hàng mà không có tên ông Imran như trong hợp đồng đã ký kết, có thể thấy như sau:

Căn cứ vào Điều 410 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định:

Điều 410. Hợp đồng dân sự vô hiệu

1. Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.

Căn cứ vào Điều 129 Bộ Luật Dân sự có quy định:

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.

Trường hợp của bạn thì việc ông Jamal và bà Nhơn đã cùng nhau đến nơi làm hợp đồng và đưa ra thông tin không chính xác về ông Imran như vậy đã đáp ứng được điều kiên khiến cho giao dịch dân sự giữa bốn bên bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào quy định tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004:

Điều 161. Quyền khởi kiện vụ án

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy ông Imran có quyền thông qua người đại diện hợp pháp của mình để khởi kiên hoặc ông có thể đứng ra khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Quyền lợi của ông Imran trong trường hợp này bị xâm hại rõ ràng cho nên căn cứ vào những hợp đồng đã ký kết và hành vi của ông Jamal và bà Nhơn và việc tự nguyện đứng ra làm chứng của Công ty Viva thì ông Imran có quyền được khởi kiện ông Jamal và bà Nhơn ra Tòa án. Theo quy định trong Luật Hiến pháp năm 2013 thì người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đều bình đẳng về năng lực pháp luật_có nghĩa là họ được pháp luật bảo vệ và những quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.

Ông Imran có quyền được khởi kiện bà Nhơn và ông Jamal ra Tòa án để đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bạn có thể khởi kiện cả Công ty Viva, ông Jamal và bà Nhơn khi bạn thấy quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình bị xâm hại. Khi tiến hành khởi kiện ra Tòa án thì bạn giữ vai trò là nguyên đơn dân sự, cụ thể bạn có thể căn cứ vào quy định tại Điều 56 và Điều 58 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004:

Điều 56. Đương sự trong vụ án dân sự

1. Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.

3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của đương sự

1. Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.

2. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
b) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;
c) Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá; khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng cứ mà Toà án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu;
d) Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;
đ) Đề nghị Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;
g) Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình;
h) Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
i) Tham gia phiên toà;
k) Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
l) Đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;
m) Tranh luận tại phiên toà;
n) Được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án;
o) Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án theo quy định của Bộ luật này;
p) Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
q) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án;
r) Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
s) Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
t) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
u) Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.

Như vậy nếu bạn có đủ căn cứ chứng minh được quyền và lợi ích của bạn bị xâm hại thì bạn có quyền được khởi kiện những chủ thể có liên quan đến việc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bạn. Để đưa ra căn cứ chứng minh hợp pháp bạn có thể tham khảo thêm tại Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP.

Nếu như vụ việc đã được đưa ra Tòa án khi ông Imran đưa ra được đầy đủ căn cứ chứng minh quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm thì ông có quyền yêu cầu bồi thường từ phía chủ thể vi phạm ( bao gồm cả khoản tiền 25.000 USD) hoặc yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng ( hợp đồng không bị mất hiệu lực) đã kí kết.

Về hình thức khởi kiện được quy định trong Điều 164 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 :

Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
i) Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
k) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án;
l) Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

Trình tự thủ tục được quy định trong Phần thứ hai Thủ tục Giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm Chương XII Khởi kiện và thụ lý vụ án của Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 và cụ thể trong Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự bạn có thể tham khảo thêm trong đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Giao dịch dân sự là gì ? Xác lập giao dịch dân sự như thế nào thì hợp pháp ?

4. Phương pháp nào để tránh các rủi ro, lừa dối khi thiết lập giao dịch ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về hành vi lừa đảo và các vấn đề liên quan:

Trả lời:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: hôm qua em đi xin việc làm nhưng bị lừa. Nó đã lấy chứng minh thư của em scan ra từ máy nào đó ạ. Vậy nó có thể làm j vs cmt của e ko ạ như là nó biết địa chỉ nơi ở của gia đình e ý ạ. C có thể giup e trả lời thắc mắc này được ko ạ ? Cảm ơn!

=> Trường hợp này khi người khác có thông tin trên chứng minh nhân dân của bạn, biết được địa chỉ của bạn thì người ta có thể sử dụng thông tin đó để đăng ký những giao dịch mà không cần có chữ ký của bạn,... Về địa chỉ gia đình bạn thì việc bị lộ thông tin có thể dẫn đến nhiều hậu quả khác nhau.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi ở miền Bắc muốn vào SG mua máy móc trị giá 500tr chưa bao gồm phí vận chuyển ra ngoại thành(miễn phí nội thành).Như vậy để đảm bảo không bị lừa gạt,hoặc chậm chễ cho kịp thời nhu cầu của mình thì tôi phải làm như nào cho chặt chẽ.

=> Trường hợp này bạn có thể lập hợp đồng đặt cọc với bên bán và ghi rõ các điều kiện mà bạn muốn được thiết lập trong giao dịch.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và cha tôi có thoả thuận miệng là tôi sẽ cho tặng cha tôi phần đất trang trại mà tôi đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bù lại cha tôi sẽ cho tặng lại tôi phần đất khác khi ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, khi cha tôi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của phần đất ông hứa cho tôi nhưng bây giờ ông lại không sang tên cho tôi và cũng không trả lại tôi phần đất trang trại mà tôi đã cho ông như thỏa thuận. Xin luật sư tư vấn giúp tôi có cách nào lấy lại phần đất trang trại mà cha tôi lừa tôi không và tôi phải làm sao theo trình tự pháp luật?

=> Trường hợp này bạn có thể thu thập bằng chứng như băng ghi âm, ghi hình về việc ông xác nhận trước đây có hứa sẽ chuyện nhượng quyền sử dụng đất của ông cho bạn. Khi đó bạn mới có thể yêu cầu cha bạn thực hiện như đã hứa.

Thưa luật sư, xin hỏi: tôi định mua một lô đất đã có sổ riêng và chỉ có 1 nguời đứng tên trên sổ vây thủ tục mua bán va đóng thuế như thế nào cho an toàn mà không bị lừa ?

=> Đê tránh trường hợp bị lừa thì thủ tục mua bán bạn có thể thực hiện tại Văn phòng công chứng để công chứng viên xác nhận cho bạn và chi phí đóng thuế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Khi nộp thuế thì bạn lưu ý kiểm tra thông tin trên biên lai.

Thưa luật sư, xin hỏi: Trước kia gia đình tôi có một mảnh đất do ông bà để lại để ở. khoảng năm 2000 ông hàng xóm lừa mẹ tôi dể chiếm dạt và cải tạo làm ruộng cho dến nay .vây cho tôi hỏi có thể kiện để lấy lại mảnh dất dó dược không và cần những lọi giấy tờ nào?

=> Bạn có thể khởi kiện được nhưng bạn cần có bằng chứng về việc ông hàng xóm đã lừa bạn.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Làm thế nào để lấy lại được tiền ? Thủ tục khởi kiện đòi tiền cần những giấy tờ gì ?

5. Bị người làm bằng đại học lừa có làm được gì không ?

Thưa luật sư, Em xin luật sư tư vấn dùm: Em có tìm hiểu, thỏa thuận làm bằng cấp đại học, mọi thỏa thuận đều qua điện thoại .Tổng số tiền thỏa thuận ban đầu là 5 triệu đồng, cọc 1.5 triệu, nhận bằng thì thanh toán phần còn lại Cọc 1.5 triệu đồng.
Em chuyển khoản cho bên làm bằng. Sau 2 ngày, họ yêu cầu e chuyển khoản phần còn lại, Em cũng chuyển khoản, nhưng họ không giao bằng, họ nói, bằng cấp hơi khó làm, có chút trục trặc, yêu cầu chuyển thêm 2tr đồng nữa, Em vẫn chuyển cho họ, sang ngày hôm sau, họ nói, Em phải chuyển tiếp 2tr nữa, thì Em mới có bằng!
Hiện giờ, số tiền Em chuyển cho họ là 7tr đồng ( phần làm bằng ĐH) và 2 tr đồng ( phần làm chứng chỉ ) Tổng số tiền e chuyển khoản là 9tr đồng Luật sư tư vấn giúp e, nếu họ lừa đảo, thì Em có làm gì được họ không? Em có số điện thoại, tên, số tài khoản của người nhận làm bằng ( tài khoản tại NH Agribank) Em xin cám ơn LS nhiều lắm!
Người gửi: T.R

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 122 Bộ luật dân sự 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự 2015) quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện sau:

"Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Theo như thông tin của bạn thì giao dịch thỏa thuận làm bằng cấp đại học của bạn là giao dịch không được pháp luật công nhận và cho phép chính vì vậy theo quy định trên thì giao dịch thảo thuận làm bằng đại học của bạn và bên kia sẽ vô hiệu.

Điều 137 bộ luật dân sự 2005 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Theo quy định trên thì khi giao dịch thỏa thuận làm bằng của bạn với bên kia bị tuyên vô hiệu thì 2 bên sẽ trả lại cho nhau những gì đã nhận (nếu như không hoàn trả được bằng tiền thì có thể hoàn trả bằng hiện vật ) và khôi phục lại tình trạng ban đầu .

Như vậy, trong trường hợp này sau khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu bên làm bằng cho bạn sẽ phải trả lại số tiền đã nhận của bạn.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc làm giả bằng đại học này có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 267 BLHS tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết vấn đề về hợp đồng cho thuê trọ ?