1. Khái niệm GDDS

Theo điều 116 BLDS 2015 GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương là phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Một GDDS chỉ được xác lập, thay đổi hay chấm dứt khi có ít nhất là một trong các bên tham gia GDDS thể hiện ý chí của mình dưới một hình thức nhất định nhằm mục đích ghi nhận, thay đổi, hủy bỏ các quyền và nghĩa vụ dân sự.

So với thế giới, sự phát triển của “GDDS” tại mỗi quốc gia có những đặc thù riêng. Nét chung nhất có thể thấy được là vị trí của chế định GDDS ngày càng được nâng cao và chú trọng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình phát triển của từng nước mà GDDS được quy định ở những khía cạnh, góc độ khác nhau..

Ở Việt Nam, khái niệm GDDS được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau nhưng theo Điều 116 BLDS năm 2015 khái niệm như sau: GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều kiện có hiệu lực của GDDS: Theo Điều 117 BLDS Việt Nam năm 2015 thì:

1.  GDDS có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp

với GDDS được xác lập;

b) Chủ thể tham gia GDDS hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của GDDS không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

  2.  Hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của GDDS trong trường hợp luật có quy định.

Điều 120:  GDDS có điều kiện

1. Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ GDDS thì khi điều kiện đó xảy ra, GDDS phát sinh hoặc hủy bỏ.

2. Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ GDDS không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

 

2. Khái niệm GDDS vô hiệu

Một giao dịch dân sự hợp pháp khi đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong đó có ba điều kiện bắt buộc về chủ thể, nội dung và mục đích. Đối với điều kiện về hình thức của giao dịch, điều kiện này chỉ đặt ra khi pháp luật có quy định. Khi giao dịch dân sự không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì có thể bị vô hiệu. Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực pháp luật và không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể trong giao dịch.

Theo Điều 122 Bộ luật dân sự 2015

“Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác .

 

3.  Khái niệm hình thức của GDDS

Hình thức của GDDS là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch. Thông qua phương tiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của giao dịch có vai trò là sự công bố ý chí của chủ thể tham gia GDDS, là cách thức để truyền đạt thông tin với chủ thể không tham gia về sự xác lập GDDS. Hình thức GDDS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự. Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra.

Ở Việt Nam, liên quan đến hình thức là điều kiện có hiệu lực của một số GDDS trong khoa học pháp lý của Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau. Hiện nay, theo Điều 119 BLDS năm 2015 thì GDDS được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. GDDS thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản; Trường hợp luật quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định GDDS thông qua có 3 hình thức là hình thức miệng (bằng lời nói); hình thức văn bản hoặc hành vi cụ thể, như sau:                                                            

  • Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức miệng được coi là hình thức

phổ biến nhất trong xã hội hiện nay mặc dù hình thức này có độ xác thực thấp nhất. Hình thức miệng thường được áp dụng đối với các giao dịch được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó (mua bán trao tay) hoặc giữa các chủ thể có quan hệ mật thiết, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau (bạn bè, người thân cho vay, mượn tài sản ...). Nhưng cũng có trường hợp GDDS nếu được thể hiện bằng hình thức miệng phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị.

  • Hình thức văn bản: 

           Văn bản thường: Được áp dụng trong trường hợp các bên tham gia GDDS thoả thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện bằng hình thức văn bản. Nội dung giao dịch được thể hiện trên văn bản có chữ kí xác nhận của các chủ thể cho nên hình thức này là chứng cứ xác định chủ thể đã tham gia vào một GDDS rõ ràng hơn so với trường hợp giao dịch được thể hiện bằng lời nói.

          Văn bản có công chứng chứng nhận, uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực: Được áp dụng trong những trường hợp pháp luật quy định GDDS bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thoả thuận phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó (mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất ...).        

  • Hình thức giao dịch bằng hành vi: GDDS có thể được xác lập thông qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước. Ví dụ: Mua nước ngọt bằng máy tự động, chụp ảnh bằng máy tự động, gọi điện thoại tự động… Đây là hình thức đơn giản nhất của giao dịch. Giao dịch có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết. Hình thức này càng ngày càng trở nên phổ biến, nhất là tại những quốc gia có nền công nghiệp tự động hoá phát triển.

4. Khái niệm GDDS vô hiệu do không tuân thủ về hình thức

Như chúng ta đã biết, có một số loại giao dịch đơn thuần, chủ thể tham gia có thể lựa chọn bất kỳ hình thức giao dịch nào. Nhưng đối với những GDDS  đặc biệt và có giá trị lớn thì nhà nước đã quy định giao dịch đó phải tuân thủ một hình thức nhất định và nếu các chủ thể tham gia GDDS đó mà không tuân thủ các quy định của pháp luật về mặt hình thức thì GDDS đó vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức hay còn gọi là GDDS vô hiệu về hình thức. Sở dĩ có quy định như vậy là để nhà nước kiểm soát sự chuyển dịch tài sản trong xã hội, đảm bảo trật tự kinh tế thị trường và giải quyết tồn tại thực tế là tranh chấp đối với GDDS loại này xảy ngày càng nhiều, đặc biệt liên quan đến nhà - đất.          

Ở Việt Nam không có cụm từ GDDS vô hiệu về hình thức mà có thể hiểu GDDS vô hiệu về hình thức là những GDDS bị vô hiệu do khi xác lập giao dịch các chủ thể tham gia giao dịch đã không tuân thủ quy định về hình thức của giao dịch mà pháp luật Việt Nam đã quy định. Nên có thể đưa ra khái niệm “GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức” hay GDDS vô hiệu về hình thức theo pháp luật Việt Nam như sau: GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mà khi một bên hoặc các bên yêu cầu Tòa án tuyên là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương đó không có hiệu lực do khôngtuân thủ quy định về hình thức mà pháp luật quy định lẽ ra khi người giao kết hợp đồng hoặc thực hiện hành vi pháp lý đơn phương đó phải chấp hành quy định về hình thức.           

Điều 129 BLDS năm 2015 quy định: GDDS vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

  1. GDDS đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;          
  2.  GDDS đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực. 

6. Đặc điểm của GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức ngoài mang trong mình những đặc điểm của một GDDS vốn có là:

  •  GDDS phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia;
  •  Các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện;
  •  Chế tài trong giao dịch mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt;
  •  Nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Và GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức còn có đặc điểm chung của một GDDS vô hiệu sau:

  • Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định của pháp luật;
  • Các bên tham gia giao dịch phải chịu hậu quả pháp lý nhất định như khi GDDS vô hiệu quay lại trạng thái ban đầu, các bên tham gia giao dịch hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.

GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức còn có các đặc điểm sau:

  • Hình thức của giao dịch luôn là hình thức bằng văn bản;
  • Mức độ thực hiện nghĩa vụ giao dịch là dấu hiệu nhận biết GDDS được xác lập do không tuân thủ quy định về hình thức đó là vô hiệu hay không;
  • GDDS được xác lập không tuân thủ quy định về hình thức không đương nhiên được coi là GDDS vô hiệu mà giao dịch đó chỉ bị coi là GDDS vô hiệu khi một hoặc các bên yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS đó là vô hiệu.
  • Loại GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức đặc biệt quan tâm đến vai trò của người thứ ba trong giao dịch.

6. Hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

  BLDS năm 2015 quy định: GDDS vi phạm quy định điều kiện có hiệu

lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

  1. GDDS đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;
  2.  GDDS đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Bạn đọc còn vướng mắc pháp lý nào khác vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng nhất!