1. Giới thiệu tác giả
"Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản" do GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, TS. Võ Trí Hảo (đồng chủ biên).
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, TS. Võ Trí Hảo (đồng chủ biên)
Nhà xuất bản: Đại học Quốc gia Hà Nội
3. Tổng quan nội dung sách
Sau khi tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng ngành Luật, phần lớn các sinh viên được nhận vào làm việc tại các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các doanh nghiệp. Hoạt động của họ đòi hỏi phải hiểu biết về pháp luật, văn bản: phải xử lý, soạn thảo văn bản để trực tiếp hoặc tham mưu giúp thủ trưởng cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để giải quyết công việc. Chất lượng của hoạt động ra quyết định phụ thuộc vào nhiều khâu, trong đó khâu soạn thảo văn bản có một ý nghĩa lớn, đồng thời cũng là hoạt động khó khăn nhất.
Và một khi đã ban hành, văn bản không những chỉ tác động đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, mà còn liên quan đến tất cả các công dân khác - đặc biệt trong trường hợp văn bản được ban hành bởi cơ quan nhà nước.
Vì vậy, văn bản và cách thức soạn thảo văn bản rất quan trọng trong đời sống xã hội. Nhưng, tiếc thay trong các chương trình đào tạo của ta hiện nay, văn bản, soạn thảo văn bản chỉ được coi là môn phụ, hoặc được giảng dạy tích hợp trong các bộ môn khác. Sở dĩ có hiện tượng này vì văn bản và soạn thảo văn bản có một lượng kiến thức rất rộng. Môn học này không những cần có lý luận chung của nhiều ngành khoa học pháp lý, mà còn liên quan đến các bộ môn khác như logic, ngôn ngữ… Thậm chí đòi hỏi các kinh nghiệm tích lũy trong đời sống xã hội: Vì vậy, dường như không có một ngành riêng rẽ nào đủ sức đúc kết được kiến thức dành cho văn bản và soạn thảo văn bản. Sự phong phú, phức tạp cũng như sự thiếu hụt trên làm cho người soạn thảo rất bỡ ngỡ khi làm việc, từ đó có thể dẫn đến những hạn chế trong công việc của mình. Nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản cũng là một nhu cầu lớn trong công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay.
Để góp phần giải quyết những vướng mắc nêu trên, trang bị cho học sinh kỹ năng tối thiểu khi tốt nghiệp ra trường làm việc, chúng tôi biên soạn cuốn giáo trình " Kỹ thuật soạn thảo văn bản". Tuy nhiên, để phù hợp với phạm vi giảng dạy tại cơ sở đào tạo, giáo trình chỉ đề cập đến lĩnh vực văn bản pháp luật – mà chủ yếu là văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước. Trong quá trình biên soạn có vận dụng các kiến thức đã tích lũy, cũng như tham khảo vấn đề này ở các tác giả Hoàng Trọng Phiến, Lê Thái Ất, Nguyễn Văn Thâm, Phan Mạnh Hân, Vũ Hữu Tửu, Trần Anh Minh, Nguyễn Huy Thông, Hồ Quang Chính, Hoàng Sao và Nguyễn Thế Quyền.
Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Phần thứ nhất: Lý luận chung về văn bản và soạn thảo văn bản
Chương I: Khái niệm và vai trò của văn bản
1. Vai trò của văn bản trong đời sống xã hội
2. Chức năng của văn bản
3. Định nghĩa về văn bản
Chương II: Phân loại văn bản
1. Công văn và tư văn
2. Văn bản pháp luật và văn thư hành chính
3. Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật
4. Phân loại theo hình thức văn bản
5. Phân loại theo yêu cầu, mục đích của văn bản
Chương III: Khái niệm kỹ thuật soạn thảo, những yêu cầu của soạn thảo văn bản.
1. Khái niệm kỹ thuật về soạn thảo văn bản
2. Vai trò của kỹ thuật soạn thảo văn bản
3. Những yêu cầu của soạn thảo văn bản
4. Các bước soạn thảo văn bản
Chương IV: Thể thức văn bản
1. Khái niệm về thể thức văn bản
2. Các yếu tố của thể thức văn bản
Chương V: Văn phong và ngữ pháp
1. Cách hành văn
2. Câu trong văn bản
3. Một số quy tắc ngữ pháp sử dụng trong soạn thảo văn bản
Phần thứ hai: Kỹ thuật soạn thảo các loại văn bản thông dụng
Chương VI: Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
1. Thể chế hóa các chính sách - mục đích cơ bản của soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
2. quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật
3. Cách thức viết một dự thảo văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật
4. Soạn thảo một số văn bản quy phạm pháp luật cụ thể
5. Văn bản của chính quyền đia phương và cách thức soạn thảo
Chương VII: Soạn thảo văn bản áp dụng pháp luật
1. Khái niệm văn ốản áp dụng pháp luât
2. Thủ tục ban hành văn bản áp dụng pháp luật
3. Kỹ thuật soạn thảo một số văn bản hành chính thông dụng
Chương VIII: Soạn thảo văn bản hành chính
1. Khái niệm văn bản hành chính
2. Kỹ thuật soạn thảo chung các văn bản hành chính
3. Kỹ thuật soạn thảo một số văn bản hành chính thông dụng
Chương IX: Phát hành, luân chuyển, lưu trữ, tiêu hủy văn bản
1. Các yêu cầu chung của quá trình tổ chức khoa học văn bản trong hoạt động quản lý
2. Chu chuyển văn bản trong các cơ quan
3. Lập hồ sơ, lưu trữ văn bản
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản được biên soạn giới thiệu tới người học những nội dung cơ bản lý luận và thực tiễn về kỹ thuật soạn thảo văn bản. Đây là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ công tác giảng dạy và học tập môn Kỹ thuật soạn thảo văn bản tại Khoa Luật, trường Đại học Luật Hà Nội đối với giảng viên và sinh viên. Đồng thời, đây là cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc quan tâm tới hoạt động soạn thảo văn bản trong đời sống xã hội.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản" của Khoa luật, trường đại học quốc gia Hà Nội.
Luật Minh Khuê trích đoạn dưới đây nội dung trong cuốn sách về vai trò của văn bản trong đời sống xã hội để bạn đọc tham khảo:
Trong đời sống xã hội, văn bản ngày càng đóng vai trò quan trọng không thể tách rời với mọi hoạt động của xã hội con người. Mọi giao dịch giữa các cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức, giữa cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong nước với cá nhân, tổ chức nước ngoài, giữa cá nhân với cá nhân đều nhờ văn bản làm sợi dây liên lạc chính. Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, từ lĩnh vực chính trị, quân sự đến lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, văn hóa, trong phạm vi quốc tế, đều thông qua văn bản làm Phương tiện thông tin.Xét trên bình diện quốc tế, văn bản giữ vai trò tiêu biểu cho sự hiện diện của chính quyền, sau đó cũng tiêu biểu cho sự hiện diện của quốc gia. Chính quyền quốc gia được thể hiện qua hoạt động và sự hiện diện của bộ máy nhà nước, được cụ thể hóa và được đại diện bằng các cơ quan nhà nước. Vì vậy, như nêu trên nêu, nếu như linh hồn của các cơ quan nhà nước là văn bản thì linh hồn của chính quyền nhà nước cũng được thể hiện Không bằng một hình thức nào khác, ngoài văn bản của các cơ quan nhà nước.Văn bản giữ vai trò chứng tỏ tính liên tục của quốc gia. Văn bản một khi đã được ban hành sẽ có hiệu lực liên tục cho dù chính quyền thay đổi như chính phủ cũ bị lật đổ, chính phủ mới được thành lập để điều khiển bộ máy chính quyền. Tất cả những văn kiện do chính phủ cũ ký kết với các nước khác hay tổ chức quốc tế vẫn có hiệu lực đối với chính phủ mới trừ những trường hợp thật đặc biệt chính phủ mới phải chứng minh cho được chính phủ cũ là phi nghĩa.Liên tục này thì hiện qua việc tất cả những khi ước do chính phủ cũ ký kết với tư nhân, với hãng buôn, xí nghiệp, công ty, với các nhà kinh doanh tương tự khác vẫn tiếp tục được thi hành đối với chính phủ mới.Trên phương diện pháp lý, văn bản là yếu tố hợp thức hóa hành vi của chính quyền. Không có văn bản, mọi hành vi của chính quyền sẽ không có giá trị về mặt pháp lý. Văn bản là bằng chứng chứng minh sự hiện diện hành vi của cơ quan nhà nước. Một cuộc họp của cơ quan, tổ chức xã hội, hoặc một cuộc họp liên tịch đại diện nhiều cơ quan, nhiều tổ chức xã hội, sau khi thảo luận đưa ra những quyết định quan trọng, nhưng những quyết định này không thể đem ra thi hành một cách hợp pháp nếu không có nghị quyết hai biên bản cuộc họp.Tóm lại, văn bản là bằng chứng chứng tỏ sự liên tục của cơ quan nhà nước, sự liên tục của chính quyền nhà nước; đồng thời văn bản còn là phương tiện quan trọng hợp thức hóa các hành vi của các cơ quan nhà nước. Văn bản là hình thức, là phương tiện ghi nhận, hay chính thức hóa mọi hành vi của nhà nước.Đối với các tổ chức xã hội khác ngoài nhà nước, văn bản cũng có một vai trò quan trọng tương tự. Văn bản là bằng chứng khai sinh ra tổ chức xã hội, quy định phạm vi, các cấp tổ chức, nhiệm vụ của tổ chức xã hội, và hợp thức hóa mọi hoạt động của tổ chức xã hội.Văn bản không những chỉ được sử dụng trong hoạt động của cơ quan nhà nước, của đoàn thể xã hội như phân tích ở phần trên, mà còn được sử dụng ngay trong hoạt động của cá nhân. Sự phân công, phân nhiệm giữa các nhân viên trong cùng một cơ quan được ghi nhận trong văn bản được gọi là quy chế, hay nội qui cơ quan. Ngay cả việc soạn Thảo và ban hành công văn bao gồm hoạt động của nhiều cá nhân, từ người chuyên viên soạn Thảo, đến người có trách nhiệm ký và chuyển công văn đều phải được quy định rõ ràng trong văn bản.Sự cộng tác này đòi hỏi tất cả những người tham gia phải có chung tinh thần trách nhiệm liên đới, dù mỗi người có một quyền hạn và trách nhiệm riêng. Văn bản vừa quy định trách nhiệm, quyền hạn cho cá nhân đồng thời cũng là bằng chứng hành vi cá nhân.Trong đời sống hiện đại, con người ngày càng có liên quan mật thiết với nhau trong sinh hoạt cũng như kinh doanh. Văn bản là bằng chứng chứng minh sự liên kết đó, đồng thời cũng là phương tiện hợp thức hóa mọi hành vi ký kết giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với công ty, giữa công ty với công ty, giữa công ty với các cơ quan nhà nước trong ngoài nước.
Thông tin thêm:
- Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản của Trường Đại học quốc gia Hà Nội có giá bìa là 95.000 đồng.
- Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản của Trường Đại học quốc gia Hà Nội có 304 trang.
- Giáo trình Kỹ thuật soạn thảo văn bản của Trường Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2014.