1. Giới thiệu tác giả
"Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị" của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội do GS.TS. Nguyễn Đăng Dung - ThS. Lê Thị Thanh Lai (Đồng chủ biên).
2. Giới thiệu hình ảnh sách

"Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị" của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung - ThS. Lê Thị Thanh Lai (Đồng chủ biên)
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
3. Tổng quan nội dung sách
Có thể nói rằng lịch sử xã hội loài người của chúng ta có được ngày hôm nay là nhờ sự đóng góp vô cùng giá trị của các thế hệ đi trước. Trong số đó, sự đóng góp về mặt tư tưởng có một ý nghĩa rất quan trọng. Nhiều quan điểm, học thuyết của họ không những đã góp phần giải quyết các vướng mắc của chính xã hội đương đại, mà còn trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các thế hệ sau. Những học thuyết, những quan điểm của những người đi trước rất toàn diện, bao quát, rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội loài người từ tự nhiên cho đến các hoạt động của xã hội. Trong số những học thuyết, quan điểm, tư tưởng đa dạng đó, các hoạt thuyết, quan điểm tư tưởng về nhà nước và pháp luật có một ý nghĩa quan trọng rất lớn, vì quan quan hệ trực tiếp vầ mang tính quyết định đến sự phát triển của xã hội.
Lịch sử các học thuyết chính trị là lịch sử các hệ luận cơ bản về bản chất và hình thức thể hiện của các chính thể. Các hệ luận cơ bản này lại chính là những nhận thức và những cách đánh giá về các thiết chế nhà nước từ khi chúng mới xuất hiện. Vì vậy, hoàn toàn có thể nhận thấy rằng lịch sử các học thuyết chính trị là bộ phận không thể tách rời của khoa học lý luận về nhà nước pháp quyền.
Vì sự quan trọng đó, nội dung lịch sử các học thuyết chính trị từ lâu đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại khoa Luật, đại học quốc gia Hà Nội. Cuốn giáo trinh Lịch sử các học thuyết chính trị được biên soạn lần đầu năm 1995. Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên tại khoa Luật và bạn đọc quan tâm tới vấn đề này, nhóm tác giả đã quyết định biên soạn lại giáo trình này vào năm 2020.
Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Nhập môn khoa học lịch sử các học thuyết chính trị
Chương 1. Tư tưởng chính trị Ấn Độ cổ đại
1. Tư tưởng của Đạo Brahman (Bàlamôn)
2. Tư tưởng của Đạo Phạt
3. Tư tưởng của Kautilya
4. Tư tưởng của Asoka đại đế
Chương 2. Các học thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại
1. Tổng quan về sự hình thành các học thuyeetc hính trị Trung Quốc cổ đại
2. Một số học thuyết chính trị tiêu biểu của Trung Quốc thời cổ đại
Chương 3. Các học thuyêt chính trị Hy Lạp cổ đại
1. Khái quát chung
2. Tư tưởng chính trị - Pháp lý thời kỳ hình thành quốc gia chiếm hữu nô lệ
3. Tư tưởng chính trị - Pháp lý thời kỳ Hưng thịnh và suy vong của nền dân chủ chiếm hữu nô lệ
4. Tư tưởng chính trị - pháp lý thời kỳ văn minh cổ Hy Lạp
Chương 4. Tư tưởng chính trị La Mã cổ đại
1. Khái quát chung
2. Những khung hướng tư tưởng chính trị của La Mã cổ đại
Chương 5. Các học thuyết chính trị Tây Âu Trung cổ
1. Khái quát chung
2. Các học thuyết chính trị tiêu biểu
Chương 6. Các học thuyết chính trị của Anh thời cận đại
1. Khái quát chung
2. Các học thuyết chính trị tiêu biểu
Chương 7. Các học thuyết chính trị của Pháp thời cận đại
1. Khái quát chung
2. Các học thuyết chính trị tiêu biểu
Chương 8. Các học thuyết chính trị Đức thời cận đại
1. Khái quát chung
2. Các hoạc thuyết chính trị tiêu biểu
Chương 9. Các học thuyết chính trị của Mỹ thời cận đại
1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm các tư tưởng chính trị thời kỳ đấu tranh giành độc lập ở Mỹ
2. Các học thuyết chính trị tiêu biểu
Chương 10. Tưu tưởng chính trị Mác - Lênin
1. Tổng quan
2. Một số quan niệm của chủ nghĩa Mác - lenin về nhà nước và pháp luật
- Về nguồn gốc và bản chất của nhà nước và pháp luật
- Về hiến pháp và mô hình tổ chức quyền lực nhà nước
Chương 11. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh
1. Tổng quan quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Chính trị Hồ Chí Minh
2. Một số nội dung chính của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn giáo trình được biên soạn giới thiệu tới người học những nội dung cơ bản về lịch sử các học thuyết chính trị gồm: khái quát khoa học các học thuyết chính trị, tư tưởng chính trị Ấn Độ cổ đại, La Mã cổ đai, các học thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại, Hy Lạp cổ đại, Tây Âu trung cổ, các học thuyết chính trị của Anh, Pháp, Đức, Mỹ thời cận đại, tư tưởng chính trị Mác-Le6nin, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh.
Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập môn học "Lịch sử các học thuyết chính trị" của sinh viên và giảng viên tại khoa Luật, đại học quốc gia Hà Nội. Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho những bạn đọc có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực này.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị" của Khoa luật, trường Đại học quốc gia Hà Nội.
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc và bản chất của nhà nước để bạn đọc tham khảo:
Về nguồn gốc nhà nước
Nhà nước là một hiện tượng lịch sử - xã hội, có quá trình ra đời, hình thành và phát triển, vì thế Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Nhà nước tồn tại không phải là mãi mãi từ ngàn xưa. Đã từng có những xã hội không cần đến nhà nước, không có một khái niệm nào về nhà nước và chính quyền nhà nước cả. Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, giai đoạn tất nhiên phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thì sự phân chia đó làm cho nhà nước trở thành một tất yếu”.
Điều này chứng tỏ, nhà nước ra đời không phải xuất phát từ mục đích tự thân mà xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, vì vậy, Ph.Ăngghen viết: “Vì nhà nước nảy sinh ra từ những nhu cầu phải kiềm chế những đối lập giai cấp, vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp, cho nên theo lệ thường, nhà nước là của giai cấp có thế lực nhất, của các giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về chính trị...”.
Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã làm rõ hơn về điều kiện ra đời, hình thành và phát triển của nhà nước, đó là: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”. Như thế, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của nó là tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác”.
Điều này cho thấy, học thuyết mác - xít khác biệt về chất so với các học thuyết phi mác - xít về nguồn gốc ra đời của nhà nước. Sự khác biệt này không phải nằm ở chỗ thừa nhận hay không thừa nhận sự tồn tại của nhà nước mà nằm ở chỗ chỉ ra nhà nước ra đời từ đâu, ra đời để làm gì và ra đời để phục vụ ai? Học thuyết mác - xít đã lý giải tất cả những câu hỏi này bằng cơ sở hiện thực của nhà nước, đó là cơ sở kinh tế - xã hội đã quy định sự ra đời, hình thành, phát triển và tiêu vong của nhà nước. Vì thế, nhà nước là một hiện tượng xã hội nhưng đây không là hiện tượng xã hội bất biến, thụ động mà nhà nước là thiết chế xã hội đặc biệt, năng động, sáng tạo và chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi.
Về bản chất của nhà nước
Từ cơ sở kinh tế - xã hội cho sự ra đời của nhà nước, các nhà kinh điển mác - xít đã chỉ rõ bản chất của nhà nước thể hiện ở tính giai cấp (chức năng giai cấp) và tính xã hội (chức năng xã hội).
Học thuyết mác - xít về nhà nước đã chỉ rõ, nhà nước ra đời và tồn tại, phát triển trong xã hội có giai cấp, vì thế, nhà nước trước hết và bao giờ cũng là thiết chế bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp thống trị trong một xã hội nhất định, gắn với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Vì thế, V.I.Lênin đã viết: “Cách mạng không phải ở chỗ giai cấp mới dùng bộ máy nhà nước cũ để chỉ huy và quản lý, mà ở chỗ khi đã đập tan bộ máy ấy đi rồi thì giai cấp mới sẽ dùng một bộ máy mới để chỉ huy và quản lý”.
Tuy nhiên, bên cạnh thực hiện chức năng chuyên chính và là bộ máy bạo lực chuyên nghiệp của giai cấp thống trị, nhà nước còn phải thực hiện chức năng xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội và điều hòa lợi ích trong xã hội theo trật tự mà giai cấp thống trị hướng đến. Cho nên, các nhà kinh điển mác - xít chỉ rõ: “Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”. Nhà nước là bộ máy của giai cấp thống trị, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, vì thế V.I. Lênin khẳng định: “Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của một giai cấp này đối với giai cấp khác”.
Do vậy, không có một nhà nước nào có thể tồn tại và phát triển được nếu chỉ duy trì tính giai cấp (chức năng giai cấp) mà “quên đi” tính xã hội (chức năng xã hội). Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, giai cấp thống trị mặc dù có địa vị kinh tế - xã hội quan trọng và quyết định đối với giai cấp khác, nhưng cũng chỉ là bộ phận của xã hội mà không thể là toàn thể xã hội, vì thế ngoài việc bảo vệ quyền lợi và địa vị thống trị về kinh tế - xã hội, giai cấp thống trị phải điều hòa lợi ích và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các giai tầng khác ngay cả giai cấp đối lập với mình trong xã hội. Hơn nữa, nhà nước phải thực hiện các nhiệm vụ đa dạng, phức tạp mà không một thiết chế xã hội nào có thể đảm nhận được để duy trì ổn định và phát triển xã hội.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải là một công cụ, một phương tiện, đồng thời, là một biểu hiện tập trung trình độ dân chủ của nhân dân lao động. Dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nhân dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước. Điều cần thiết không phải chỉ là cơ quan đại biểu theo kiểu chế độ dân chủ, mà là toàn bộ việc quản lý nhà nước từ dưới lên phải do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý. Vì thế, V.I.Lênin trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước Nga Xô viết đã yêu cầu phải xây dựng bộ máy nhà nước gọn nhẹ, tinh giản, tổ chức khoa học, hoạt động hiệu quả và tiết kiệm theo nguyên tắc “thà ít mà tốt”, nghĩa là coi trọng chất lượng, không chạy đua theo số lượng; cán bộ, công chức phải có năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng; phải phấn đấu đạt “chất lượng kiểu mẫu thật sự”.