1. Giới thiệu tác giả

Cuốn "Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Khoa luật - Trường đại học quốc gia Hà Nội" do Bùi Thị Thanh Hằng (Chủ biên).

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Khoa luật - Trường đại học quốc gia Hà Nội

Tác giả: Bùi Thị Thanh Hằng (chủ biên)

Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội

 

3. Tổng quan nội dung sách

Luật tố tụng dân sự là ngành luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong chương trình đào tạo của Khoa luật, trường Đại học quốc gia Hà Nội, môn học luật tố tụng dân sự Việt Nam được xác định là một môn học chuyên ngành cơ bản. Để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu luật tố tụng dân sự của cán bộ, giảng viên, học viên và các đối tượng khác, khoa Luật, Trường Đại học quốc gia Hà Nội đã tổ chức biên soạn Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam do Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội biên soạn là giáo trình được được xây dựng theo nội dung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Bên cạnh các nội dung truyền thống của các giáo trình luật tố tụng dân sự hiện nay, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam bổ sung thêm chương “Nhận thức chung về quyền con người và pháp luật tố tụng dân sự” và chương “Pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gia trên thế giới” với mục đích giúp người đọc tiếp cận pháp luật tố tụng dân sự như là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền con người và có cái nhìn toàn diện về pháp luật tố tụng dân sự trên cơ sở so sánh đối chiếu. Giáo trình này là tài liệu dùng cho các chương trình đào tạo cử nhân luật học và cử nhân quyền con người tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) cũng như là tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo luật học khác ở Việt Nam.

Cuốn giáo trình được biên soạn với cấu trúc gồm 14 chương:

Chương 1: Nhận thức chung về quyền con người và pháp luật tố tụng dân sự

Chương 2: Khái niệm và nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 3: Thẩm quyền của tòa án nhân dân

Chương 4: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng dân sự

Chương 5: Chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chương 6: Biện pháp khẩn cấp tạm thời; cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng; thời hạn tố tụng, thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu

Chương 7: Án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng khác

Chương 8: Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm

Chương 9: Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự

Chương 10: Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự

Chương 11: Thủ tục giải quyết việc dân sự

Chương 12: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyệt định dân sự của tòa án nước ngoài; quyết định của trọng tài nước ngoài

Chương 13: Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự

Chương 14: Pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gia trên thế giới.

 

4. Đánh giá bạn đọc

Trong cuốn sách, các tác giả đã trình bày những vấn đề chung của môn học Luật Tố tụng dân sự, gồm: khái niệm, nguyên tắc; thẩm quyền của Tòa án nhân dân; các cơ quan tiến hành, người tiến hành và người tham gia tố tụng; chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự... Phân tích cụ thể về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự; Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm; thủ tục rút gọn giải quyết vụ án dân sự; thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp… thuận tiện cho bạn đọc nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề pháp lý cơ bản nhất trong tố tụng dân sự.

Cuốn giáo trình là học liệu quan trọng và cần thiết, phục vụ hoạt động học tập và giảng dạy hiệu quả Bộ môn Luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho những bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về pháp luật Luật Tố tụng dân sự Việt Nam để trang bị cho mình những kiến thức pháp lý căn bản nhất áp dụng trên thực tế.

Hiện nay, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành, so với quy định về tố tụng dân sự trước đó có những điểm mới. Cuốn giáo trình được biên soạn năm 2014 có thể chưa kịp thời cập nhật những điểm mới tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bạn đọc lựa chọn cuốn sách phục vụ nghiên cứu cần lưu ý.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Giáo trinh Luật Tố tụng dân sự Việt Nam - Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm và giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn để bạn đọc tham khảo:

Thủ tục giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm (Phần thứ hai từ Điều 186 đến Điều 269)

Khởi kiện (Điều 186 – Điều 194)

BLTTDS đã sửa đổi bổ sung, quy định về thủ tục gửi, nhận và giải quyết đơn khởi kiện, trong đó có những nội dung đáng chú ý như sau:

- Về gửi đơn khởi kiện: Ngoài thủ tục gửi đơn khởi kiện bằng phương thức nộp trực tiếp tại Tòa án, gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính, người khởi kiện còn có thể gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng phương thức gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). Đây là điểm mới nhằm tiến tới hiện đại hóa hoạt động của Tòa án và tạo mọi thuận lợi cho người khởi kiện.

- Về nhận đơn khởi kiện: Đối với đơn trực tiếp nộp thì Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

- Xử lý đơn khởi kiện: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: + Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; + Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; + Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; + Trả lại đơn khởi kiện.

Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 208 đến Điều 211)

Nhằm tránh phát sinh thêm những thủ tục không cần thiết, BLTTDS kết hợp 2 nội dung kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào cùng một phiên họp. Trình tự phiên họp này có 2 phần: phần thứ nhất là kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; phần thứ hai là tiến hành hòa giải.

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214 – Điều 216)

- BLTTDS đã bổ sung 2 căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án là: Khi cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ và theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản.

- Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.

Phiên tòa sơ thẩm (Điều 222 - Điều 269)

Nhằm thể hiện đầy đủ tính chất tranh tụng tại phiên tòa, BLTTDS đã bổ sung nhiều nội nội dung về thủ tục, trình tự phiên tòa sơ thẩm, trong đó có những điểm đáng chú ý như sau:

- Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền trình bày ý kiến, tranh luận, cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ, hỏi và đối đáp với các đương sự và người tham gia tố tung khác.

- Hội đồng xét xử chỉ hỏi về các vấn đề tố tụng có liên quan đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự, hỏi về chứng cứ để đánh giá làm rõ nội dung vụ án khi cần thiết, bảo đảm mọi chứng cứ có liên quan phải được xem xét, kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa.

- Người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác. Hội đồng xét xử không được hạn chế thời gian tranh luận. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các bên đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn (Phần thứ tư, Điều 316 - Điều 324)

Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật. Điều kiện và thủ tục giải quyết theo thủ tục theo thủ tục rút gọn cụ thể như sau:

Về điều kiện đưa vụ án dân sự ra xét xử theo thủ tục rút gọn:

Đối với những vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Thẩm phán tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ ngay sau khi khai mạc phiên tòa. Trường hợp đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.