1. Quy định về chuẩn trình độ đào tại của giáo viên

Hiện nay, chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên đang được quy định chi tiết tại Luật Giáo dục năm 2019. Tại Luật Giáo dục 2019 thay thế Luật Giáo dục năm 2005 có một nội dung nổi bật về chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên các cấp. Cụ thể như sau:

 

STT

Giáo viên

Luật Giáo dục 2005, sửa đổi 2009

Luật Giáo dục 2019

1

Giáo viên mầm non

Có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm

Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm

2

Giáo viên tiểu học

Có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm

Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên

3

Giáo viên trung học cơ sở

Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm;

Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên

4

Giáo viên trung học phổ thông

Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên

5

Nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên

- Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

Có bằng thạc sĩ

6

Nhà giáo giảng dạy, hướng dẫn luận văn thạc sĩ

Có bằng thạc sĩ trở lên

Có bằng tiến sĩ

7

Nhà giáo giảng dạy, hướng dẫn luận văn tiến sĩ

Có bằng tiến sĩ

Có bằng tiến sĩ

 

Như vậy, có thể thấy, từ 01/7/2020 Chính phủ đã yêu cầu cao hơn về trình độ của giáo viên các cấp nhằm đáp ứng yêu cầu của việc giảng dạy của từng cấp học.

Ngoài ra, tại điểm b khoản 1 Điều 72 Luật Giáo dục năm 2019, trong trường hợp môn học chưa có đủ giáo viên đạt điều kiện này thì có thể chỉ cần có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.

Do đó, vì giáo viên mầm non chỉ yêu cầu có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm nên không bắt buộc mọi giáo viên phải có bằng tốt nghiệp đại học trở lên từ 01/7/2020.

2. Giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ có bị tinh giản biên chế không?

Việc sử dụng giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ nhưng không thuộc đối tượng thực hiện nâng chuẩn theo Nghị định 71/2020/NĐ-CP như sau: 

- Trong 02 năm liên tiếp (2018, 2019), giáo viên có kết quả đánh giá, xếp loại đạt chuẩn nghề nghiệp trở lên hoặc được phân loại, đánh giá viên chức (xếp loại chất lượng viên chức) ở mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên, có đủ sức khỏe thì tiếp tục bố trí công tác giảng dạy cho đến khi nghỉ hưu theo quy định.

- Trong 02 năm liên tiếp (2018, 2019), giáo viên có kết quả đánh giá, xếp loại không đạt chuẩn nghề nghiệp và có một năm được phân loại, đánh giá viên chức (xếp loại chất lượng viên chức) ở mức không hoàn thành nhiệm vụ thì không bố trí giảng dạy và được sắp xếp tham gia bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để bố trí sang vị trí việc làm khác phù hợp tại cơ sở giáo dục cho đến khi nghỉ hưu theo quy định.

- Giáo viên không đủ sức khỏe, có nguyện vọng nghỉ hưu, đủ các điều kiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì được nghỉ hưu theo quy định.

- Giáo viên chưa đáp ứng trình độ chuẩn được đào tạo tùy vào trường hợp cụ thể có thể thực hiện các quy định về thôi việc và tinh giản biên chế theo các quy định hiện hành.

Những giáo viên chưa đạt trình độ đào tạo còn thời gian công tác từ 1 đến 5 năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chỉ đạo các địa phương phối hợp các trường sư phạm thiết kế các khóa bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao năng lực dạy học để đáp ứng yêu cầu đổi mới.

Đối với những giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo là đại học thời gian công tác còn trên 5 năm, Bộ sẽ chỉ đạo các trường đại học sư phạm phối hợp chặt chẽ với các địa phương xây dựng lộ trình nâng chuẩn cụ thể với mỗi địa phương.

Như vậy, giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ có thể bị tinh giản biên chế. 

3. Mục đích của việc tinh giản biên chế

Tinh giản biên chế không phải là một hoạt động mới ở nước ta. Tuy nhiên, qua một thời gian dài được thực hiện nhưng vẫn không mang lại kết quả tích cực cho bộ máy hành chính nhà nước. Vì thế, cần phải có sự xem xét để khẳng định lại sự cần thiết của hoạt động này và tìm cách thực hiện tốt hơn.

Mục đích của mọi cuộc tinh giản biên chế là nhằm tạo ra được bộ máy công quyển hoạt động hiệu quả trên cơ sở cơ cấu tổ chức tinh gọn với số lượng nhân sự phù hợp, được vận hành một cách khoa học để thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ đã được xác định. Như vậy, mục đích của tinh giản biên chế không chỉ đơn thuần là giảm cơ học số lượng nhân sự (thay đổi về lượng) mà hơn thế, đây là cách thức để các cơ quan nhà nước tinh lọc lại nhân sự (thay đổi về chất) nhằm làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp.

So với các quy định tại các văn bản pháp lý về Chính sách tinh giản biên chế từ năm 2000 đến 2013, có thể thấy rằng những nội dung cơ bản về đối tượng và chính sách tinh giản biên chế trong thời gian tới được quy định đã rõ ràng hơn.

Theo quy định, những đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm cán bộ, công chức thuộc một trong những trường hợp sau:

- Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước;

- Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác;

- Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn;

- Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác;

- Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thòi điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp;

- Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 1 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp;

- Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành.

Chính sách tinh giản biên chế gồm: chính sách nghỉ hưu trước tuổi; chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước; chính sách thôi việc; chính sách đối với những người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ khác có phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn do sắp xếp tổ chức

Xem thêm: Những trường hợp nào giáo viên sẽ bị tinh giản biên chế?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ có bị tinh giản biên chế không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.


Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!