1. Giấy nợ là gì? 

Giấy nợ là giấy hẹn chi trả, thường được dùng trong các khoản vay trả góp và khoản vay thương mại. Giấy nợ là chứng cứ hợp pháp về khoản nợ, một giấy nợ có thể được chuyển cho bên thứ ba như công cụ khả nhượng. Người nắm giữ giấy nợ muốn thanh toán trước ngày đáo hạn có thể chuyển nhượng, bằng việc ký hậu trên giấy cam kết và trình cho người chi trả để thanh toán.

 

2. Sự khác biệt chính giữa Bill of Exchange và Promissory Note

Công cụ chuyển nhượng là một tài liệu thương mại bằng văn bản, có chứa lệnh thanh toán tiền theo yêu cầu hoặc sau một thời gian nhất định. Đây là ba loại, cụ thể là hóa đơn hối đoái, giấy nợ và séc. Có những trường hợp khi hóa đơn trao đổi được nối liền với một ghi chú hứa hẹn. Sự khác biệt cơ bản giữa Bill of Exchange và Promissory Note là cái trước mang theo lệnh trả tiền trong khi cái sau chứa một lời hứa trả tiền.

Chấp nhận là một trong những yếu tố chính, phân biệt hai công cụ thương mại, tức là hóa đơn cần phải được chấp nhận, để có hiệu lực. Mặt khác, một ghi chú hứa hẹn không yêu cầu bất kỳ loại chấp nhận nào. Vì vậy, khi một người làm việc với hai người này, anh ấy / cô ấy nên được biết về ý nghĩa và tính năng.

Biểu đồ so sánh

Cơ sở để so sánh Hóa đơn trao đổi Lá phiếu
Ý nghĩa Bill of Exchange là một công cụ bằng văn bản cho thấy sự mắc nợ của người mua đối với người bán hàng hóa. Một giấy nợ là một lời hứa bằng văn bản được đưa ra bởi con nợ để trả một khoản tiền nhất định cho chủ nợ vào một ngày cụ thể trong tương lai.
Xác định trong Mục 5 của Đạo luật công cụ chuyển nhượng, 1881. Mục 4 của Đạo luật công cụ chuyển nhượng, 1881.
Các bên Ba bên, tức là người ký phát, người bị ký phát và người được trả tiền. Hai bên, tức là người ký phát và người được trả tiền.
Được vẽ bởi Chủ nợ Con nợ
Trách nhiệm của nhà sản xuất Trung học và có điều kiện Chính và tuyệt đối
Nhà sản xuất và người được trả tiền có thể là cùng một người? Vâng Không
Bản sao Bill có thể được rút ra trong các bản sao. Promissory Note không thể được rút ra trong các bản sao.
Món ăn Thông báo là cần thiết để được đưa ra cho tất cả các bên liên quan. Thông báo là không cần thiết phải được đưa ra cho nhà sản xuất.

 

2.1 Định nghĩa về hối đoái

Bill of Exchange là một tài liệu bằng văn bản được đóng dấu hợp lệ và được ký bởi người ký phát mang theo một lệnh vô điều kiện chỉ đạo (không ra lệnh) một người phải trả một số tiền cụ thể cho một người cụ thể hoặc theo lệnh của một người cụ thể hoặc người giữ các nhạc cụ. Các điều kiện sau đây cần được đáp ứng:

  • Các hóa đơn nên được đúng ngày.
  • Nó phải có một đơn đặt hàng, tức là người ký phát công cụ chỉ đạo người bị ký phát trả một khoản tiền nhất định cho người được trả tiền.
  • Phải được ký bởi người lập hóa đơn.
  • Người bị ký phát phải chấp nhận Bill.
  • Lệnh chỉ trả tiền cũng như số tiền nên được xác định.
  • Giao hóa đơn cho người được trả tiền là phải.

 

2.2 Định nghĩa của Promissory Note

Giấy ghi nợ là một công cụ có thể thương lượng, chứa một lời hứa vô điều kiện bằng văn bản, được đóng dấu hợp lệ và có chữ ký của người ký phát, để trả một khoản tiền xác định cho một người cụ thể hoặc lệnh của một người cụ thể. Nó được thực hiện bởi con nợ để vay tiền từ chủ nợ. Các tính năng của một ghi chú hứa hẹn như dưới đây:

  • Các lưu ý phải bằng văn bản mang theo lời hứa bằng văn bản để trả tiền cho chủ nợ.
  • Chữ ký của người hứa tức là ngăn kéo của ghi chú phải ở đó.
  • Ngày mà ghi chú phải trả nên được cố định.
  • Cả người hứa và người được hứa cần phải chắc chắn.
  • Tổng số tiền phải được xác định.
  • Tiền pháp định của đất nước nên được sử dụng để thanh toán nợ.

Promissory Note không bao gồm ghi chú tiền tệ hoặc tiền giấy ngân hàng.

 

2.3 Sự khác biệt chính giữa Bill of Exchange và Promissory Note

Sau đây là những khác biệt chính giữa hối phiếu hối đoái và kỳ phiếu:

  • Bill of Exchange là một công cụ tài chính thể hiện số tiền mà người mua nợ đối với người bán. Promissory Note là một tài liệu bằng văn bản trong đó con nợ hứa với chủ nợ rằng số tiền đến hạn sẽ được trả vào một ngày cụ thể trong tương lai.
  • Bill of Exchange được định nghĩa trong Phần 5 của Đạo luật công cụ chuyển nhượng, năm 1881 trong khi Lưu ý phát hành được xác định trong Mục 4.
  • Trong một hóa đơn trao đổi, có ba bên trong khi trong trường hợp ghi chú kỳ hạn, số lượng các bên là 2.
  • Chủ nợ tạo ra Bill of Exchange. Mặt khác, Promissory Note được chuẩn bị bởi con nợ.
  • Trách nhiệm của người tạo ra hối phiếu là thứ yếu và có điều kiện. Ngược lại, trách nhiệm của người tạo ra giấy ghi nợ là chính và tuyệt đối.
  • Bill of Exchange có thể được lập thành bản sao, nhưng Promissory Note không thể được lập thành bộ.
  • Trong trường hợp hối phiếu, người ký phát và người được trả tiền có thể là cùng một người mà không thể thực hiện được trong trường hợp Lưu ý phát hành.
  • Thông báo về sự không trung thực của một hóa đơn trao đổi phải được đưa ra cho tất cả các bên liên quan, tuy nhiên, trong trường hợp ghi chú hứa hẹn, thông báo đó không cần phải được đưa ra cho nhà sản xuất.

 

3. Hối phiếu nhận nợ là gì?

Hối phiếu nhận nợ trong tiếng Anh là Promissory note.

Hối phiếu nhận nợ là một cam kết trả tiền vô điều kiện do người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng qui định trên hối phiếu nhận nợ hoặc theo lệnh của người này để trả cho một người khác.

Khác với hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ là một công cụ hứa trả tiền, không phải là một công cụ đòi tiền. Người lập phiếu là người có nghĩa vụ trả tiền cho người thụ hưởng ghi trên hối phiếu nhận nợ, còn người kí phát hối phiếu đòi nợ là người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ. 

Hối phiếu đòi nợ do một người kí phát tạo lập ra, còn ngược lại hối phiếu nhận nợ có thể do một người tạo lập hoặc do nhiều người tạo lập một hối phiếu nhận nợ. Do là một công cụ hứa trả tiền, cho nên kì hạn hối phiếu nhận nợ phải được xác định rõ ràng, cụ thể trên hối phiếu nhận nợ. 

 

4. Đặc điểm lưu thông hối phiếu nhận nợ

Hối phiếu nhận nợ là một tài sản tài chính vô hình giống như hối phiếu, do đó đặc điểm lưu thông hối phiếu phận nợ cũng giống như đặc điểm lưu thông hối phiếu. Tuy nhiên, có một số điểm khác sau đây:

- Hối phiếu nhận nợ là một công cụ hứa trả tiền, chứ không phải là công cụ đòi tiền như hối phiếu, cho nên muốn lưu thông dễ dàng, hối phiếu nhận nợ thường phải được một người thứ ba đứng ra bảo lãnh thanh toán, trừ trường hợp người lập phiếu là người có uy tín lớn về tài chính.

- Hối phiếu nhận nợ là một công cụ hứa trả tiền vô điều kiện do con nợ viết ra để hứa trả một số tiền nhất định cho chủ nợ, vì vậy, trong lưu thông hối phiếu nhận nợ không phát sinh yêu cầu chấp nhận thanh toán hối phiếu nhận nợ. Trên thương trường, không ai lại tự cháp nhận khả năng thanh toán của chính mình. 

- Người lập phiếu phải phát hành hối phiếu nhận nợ hứa trả tiền trước khi người thụ hưởng hối phiếu nhận nợ thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng giao dịch cơ sở. Sau khi thực hiện nghĩa vụ, người thụ hưởng mới ủy thác cho ngân hàng thu tiền của hối phiếu nhận nợ từ người lập phiếu.

 

5. Nội dung của hối phiếu nhận nợ

- Tiêu đề " Hối phiếu nhận nợ"ghi ở mặt trước

- Hứa trả vô điều kiện một số tiền nhất định

- Địa điểm trả tiền

- Thời hạn hối phiếu nhận nợ ghi rõ ràng cụ thể

- Tên, địa chỉ của Người tạo lập, Người thụ hưởng

- Ngày và địa điểm tạo lập

- Chữ kí của Người tạo lập

Một hối phiếu nhận nợ nếu thiếu các nội dung nêu trên sẽ coi là vô hiệu, trừ một số nội dung sau đây:

- Nếu địa điểm trả tiền không thể xác định trên hối phiếu nhận nợ, thì sẽ coi địa chỉ ghi bên cạnh tên Người tạo lập hoặc địa điểm kinh doanh của Người tạo lập là địa điểm trả tiền của hối phiếu nhận nợ, tùy theo qui định của pháp luật.

 Nếu địa điểm tạo lập không thể xác định trên hối phiếu nhận nợ thì sẽ coi địa chỉ ghi bên cạnh tên Người tạo lập hoặc địa điểm kinh doanh của Người tạo lập là địa điểm tạo lập của hối phiếu nhận nợ, tùy theo qui định của Pháp luật.

 

6. Hình thức bảo lãnh hối phiếu đòi nợ?

Điều 25 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 quy định về hình thức bảo lãnh hối phiếu đòi nợ như sau:

“Điều 25. Hình thức bảo lãnh

1. Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ được thực hiện bằng cách người bảo lãnh ghi cụm từ “bảo lãnh”, số tiền bảo lãnh, tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trên hối phiếu đòi nợ hoặc trên tờ phụ đính kèm hối phiếu đòi nợ.

2. Trong trường hợp bảo lãnh không ghi tên người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là bảo lãnh cho người ký phát”

Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ là việc người thứ ba (sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với người nhận bảo lãnh sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ nếu đã đến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ. Người bảo lãnh là người có liên quan trong quan hệ công cụ chuyển nhượng. Theo đó, hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. Người bị ký phát là người có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng số tiền tương đương với giá trị của hối phiếu. Hối phiếu đòi nợ là một loại chứng từ chứng nhận nợ của người bị ký phát. Trên thực tế, có thể xảy trường hợp, người bị ký phát không thanh toán tiền như đã thỏa thuận, điều đó làm ảnh hưởng đến lợi ích của người thụ hưởng, là người được nhận số tiền mà bên bị ký phát thanh toán. Để đảm bảo cho khả năng chi trả của người bị ký phát, thì các bên có thể thỏa thuận về việc để một chủ thể khác đứng ra bảo lãnh, cam kết sẽ thanh toán tiền cho người thụ hưởng khi đến thời hạn thanh toán mà người bị ký phát không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.

Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ là hình thức bảo đảm cho quyền lợi người thụ hưởng, do đó, việc bảo lãnh phải được thực hiện theo đúng hình thức mà pháp luật quy định, cụ thể:

- Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ được thực hiện bằng cách người bảo lãnh ghi các nội dung theo quy định trên hối phiếu đòi nợ hoặc trên tờ phụ đính kèm hối phiếu đòi nợ, bao gồm:

1. Cụm từ “bảo lãnh”. Hối phiếu đòi nợ được ký phát có thể có biện pháp bảo lãnh hoặc không. Do đó, trường hợp các bên có thỏa thuận về việc áp dụng biện pháp bảo lãnh thì phải ghi nhận trên hối phiếu.

2. Số tiền bảo lãnh. Người bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh toàn bộ giá trị của hối phiếu hoặc chỉ một phần. Do đó, trên hối phiếu phải ghi rõ số tiền mà người bảo lãnh cam kết bảo lãnh. Đây là căn cứ để xác định trách nhiệm của người bảo lãnh trong trường hợp người bị ký phát không thanh toán được tiền cho người thụ hưởng. 

3.Tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh. Người được bảo lãnh chính là người bị ký phát. Trên hối phiếu phải ghi tên người được bảo lãnh, đảm bảo khi người cho cam kết bảo lãnh của người bảo lãnh. Trong trường hợp bảo lãnh không ghi tên người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là bảo lãnh cho người ký phát. Bên cạnh đó, nội dung không thể thiếu là tên, địa chỉ và chữ ký của người bảo lãnh. Người bảo lãnh tham gia bảo lãnh hối phiếu đòi nợ dựa trên tinh thần tự do, tự nguyện. Tên, chữ ký là cơ sở để xác định việc họ tự nguyện tham gia bảo lãnh. Bên cạnh đó, trong trường hợp người bị ký phát không thanh toán được tiền, thì người thụ hưởng có thể dựa trên thông tin về tên, địa chỉ người bảo lãnh để yêu cầu họ thanh toán theo số tiền đã cam kết.