Luật sư tư vấn:

1. Chủ thể của giao dịch dân sự

1.1 Cá nhân: 

Đây là chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và tham gia thường xuyên bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài , người không có quốc tịch sống ở Việt Nam được quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự 2015.

Tại Điều 14, để có tư cách chủ thể thì cá nhân phải có các điều kiện đầy đủ năng lực pháp luật dân sự sau đây:

1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. 

Trong đó, năng lực hành vi dân sự là “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”, và năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có được khi đạt độ tuổi nhất định:

– Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Theo quy định tại Điều 19 người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đủ 18 tuổi trở lên nhưng không bị mắc bệnh tâm thần, bệnh khác (Điều 22) hoặc người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác (Điều 23).

– Năng lực hành vi một phần: Điều 20 quy định Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác, trường hợp có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Không có năng lực hành vi dân sự : là người chưa đủ 6 tuổi theo quy định Điều 21

– Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định Điều 22 và Điều 23

 

1.2 Pháp nhân:

Cơ quan, tổ chức, chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập có các kiện quy định tại Điều 84 về Pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

– Thứ nhất, là được thành lập hợp pháp: thành lập theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;

– Thứ hai, là có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

– Thứ ba, là có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: pháp nhân phải có tài sản riêng không phụ thuộc và bị chi phối bởi bất kì chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nào khác, trên cơ sở tài sản riêng đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình

– Thứ tư, là nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: vì tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập nên pháp nhân sẽ được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự phù hợp với pháp nhân nên pháp nhân phải nhân danh chính mình.

 

2. Hình thức của giao dịch dân sự

Căn cứ theo điều 119 Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hình thức giao dịch dân sự được quy định như sau:

- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

- Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Hình thức của giao dịch dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của những nội dung của nó dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định. Giao dịch dân sự được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể.

Hình thức giao dịch bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể thường áp dụng cho những giao dịch dân sự được thực hiện hoặc chấm dứt ngay sau khi thực hiện ( như mua bán trao tay) hoặc áp dụng giữa những chủ thể có sự tin cậy hoặc mối quạn hện thân thiết.

Hình thức giao dịch dân sự thể hiện bằng văn bản là việc các bên chủ thể lập bằng văn bản thỏa thuận các điều khoản của giao dịch và các bên chủ thể xác nhận ý chí của mình vào văn bản đó. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản. Giao dịch dân sự phải thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Theo đó, quy định này có thể được hiểu: trong trường hợp pháp luật quy định chỉ được thể hiện bằng một trong ba hình thức: văn bản có công chứng, văn bản có  chứng thực hoặc văn bản có đăng ký thì các bên chỉ được lựa chọn duy nhất một hình thức đó. Cách hiểu khác: nếu luật cho phép hình thức giao dịch thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực và đăng ký thì giao dịch đó phải thể hiện cả ba dạng văn bản này. Do vậy đối với các giao dịch dân sự cần thể hiện bằng văn bản này thì cần có hướng dẫn cụ thể khi thực hiện pháp luật.

 

3. Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực

- Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

+ Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

+ Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Để đảm bảo một giao dịch dân sự có hiệu lực thì phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện tại điều 117 của bộ luật dân sự 2015 quy định. Nếu thiếu một trong các điều kiện này thì giao dịch dân sự đương nhiên hoặc có thể bị coi là vô hiệu:

– Điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch dân sự: Chủ thể tham gia giao dịch dân sự ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Chủ thể tham gia giao dịch dân sự là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình trong việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự và tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các giao dich dân sự.

Tùy thuộc vào các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân mà cá nhân được tham gia vào các giao dịch phù hợp với độ tuổi. Các đối tượng là pháp nhân tham gia giao dịch dân sự thông qua người đại diện của mình. Hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

– Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch dân sự: Ở đây mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia giao dịch dân sự. Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản, các cam kết xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, có tính chất ràng buộc các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự. Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ giao dịch, các chủ thể có quyền tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận nhằm đáp ứng lợi ích mà các bên mong muốn đạt được nhưng không vi phạm những điều cấm của pháp luật, không trái với quy tắc ứng xử thông thường của người dân.

– Điều kiện về sự tự nguyện khi xác lập giao dịch dân sự: Về mặt bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí nên chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện trong việc thể hiện và bày tỏ ý chí của mình. Trước khi tham gia giao dịch dân sự, các chủ thể có quyền tự do tự quyết định tham gia hay không tham gia giao dịch dân sự, không bị chi phối hoặc không bị ép buộc, cấm đoán, đe dọa.

– Điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự: Hình thức của giao dịch dân sự là phương thức thể hiện nội dung của giao dịch. Các bên chủ thể có quyền lựa chọn hình thức phù hợp để xác lập giao dịch. Tuy nhiên, một số trường hợp pháp luật quy định hình thức bắt buộc thì các bên phải tuân theo, nếu vi phạm giao dịch sẽ không có hiệu lực.

 

4. Có cần công chứng hoặc chứng thực giấy vay nợ không?

Vậy cho hỏi, giấy vay nợ có cần công chứng hoặc chứng thực hay không? Nếu không công chứng hoặc chứng thực có giá trị pháp lý không? Tôi nên làm gì để lấy lại được tiền khi người vay tiền cố tình không trả tiền cho tôi mặc dù có điều kiện?

Mong sớm nhận được phản hồi của luật sư, xin cảm ơn!

 

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản:

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì hợp đồng vay tài sản chỉ cần thỏa thuận của các bên, theo đó, bạn chỉ cần giao 300 triệu cho bên vay, khi đến hạn phải trả là sau một năm thì bạn của bạn phải trả tiền cho bạn theo thỏa thuận của các bên. Hợp đồng vay không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực. Do vậy, giấy vay nợ giữa bạn và bạn của bạn không cần công chứng hoặc chứng thực thì vẫn có giá trị pháp lý.

Tuy nhiên, để có thể chắc chắn được hợp đồng vay có thể đảm bảo quyền lợi cho bạn nếu sau này giữa hai bên có tranh chấp phát sinh thì bạn nên công chứng hoặc chứng thực giấy vay tiền hoặc ít nhất là có người làm chứng thì mới xác định được chắc chắn vào thời điểm ký vào giấy vay tiền thì bên vay và bên cho vay cả hai bên đều hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn, sáng suốt, không bị đe dọa, lừa dối hoặc ép buộc.

Trong trường hợp, nếu sau 01 năm, đến thời hạn phải thanh toán khoản nợ cho bạn mà người bạn của bạn không trả tiền cho bạn thì bạn có thể làm một trong hai cách sau để đòi lại số tiền bạn đã cho vay:

Cách thứ nhất: Bạn nên làm đơn Khởi kiện tới Tòa án theo hướng giải quyết vụ án dân sự

Đơn khởi kiện bạn có thể đến trực tiếp tại Tòa án hoặc lên trực tiếp website: luatminhkhue.vn để tải mẫu đơn khởi kiện. Bạn có thể đánh máy hoặc viết tay Đơn Khởi kiện. Sau đó, bạn có thể nộp đơn tới trực tiếp Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người nợ tiền bạn đang cư trú để yêu cầu Tòa án giải quyết theo hướng tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Cách thứ hai: Bạn sẽ làm Đơn Tố giác tội phạm tới cơ quan công án theo hướng giải quyết vụ án hình sự

Căn cứ theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Theo đó, trong trường hợp, đến thời hạn phải trả tiền, mặc dù người vay tiền của bạn có khả năng là có tài sản để trả cho bạn, kể cả đất đai, nhà cửa, ô tô, xe máy,... nhưng vẫn cố tình không trả cho bạn với khoản nợ là 300 triệu đồng thì bạn có quyền nộp đơn Tố giác tội phạm về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 với mức hình phạt có thể là bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.