1. Giấy nợ là gì?

Giấy nợ là giấy hứa trả nợ không có bảo đảm, chỉ được bảo lãnh bằng ủy tín dụng của bên phát hành. Giấy nợ, giống như trái phiếu công ty, được phát hành dựa trên uy tín hoặc bản khế ước. Một vài loại giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần thường với mức giá cụ thể, và được gọi là giấy nợ có thể chuyển đổi. Trái với trái phiếu.

 

2. Giấy nợ bao gồm những nội dung như thế nào?

Khi vay tiền lưu ý cần phải rõ ràng, chi tiết, đảm bảo đầy đủ những thông tin dưới đây:

- Xác định chính xác số tiền vay. Trong nội dung giấy nợ có số tiền bằng số và bằng chữ, mục đích vay tiền không nhằm sử dụng vào mục đích trái pháp luật như đánh bạc, kinh doanh hàng cấm...

- Lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được quá 20%/năm của khoản tiền vay, tránh trường hợp cho vay nặng lãi. 

- Thời gian trả nợ. Hai bên tự thỏa thuận và thống nhất ngày, tháng, năm trả nợ cụ thể và ghi rõ trong giấy nợ để có căn cứ giải quyết nếu có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra cần Tòa án giải quyết.

- Việc vay và ký giấy nợ nếu nhằm mục đích vay sử dụng chung cho gia đình thì nên yêu cầu cả hai vợ, chồng người vay cùng ký giấy vay tiền để sau này có căn cứ chịu trách nhiệm.

Bên cạnh đó, nếu giấy nợ viết tay (không đánh máy) thì nên để người nợ tự viết - vì có thể sử dụng cho việc giám định chữ ký, chữ viết khi có tranh chấp. Hai bên cùng ký vào giấy đảm bảo tính hợp pháp của giấy nợ viết tay.

Khi thanh toán khoản nợ được vay bởi giấy viết tay cần có người chứng thực là đã trả nợ hoặc có thể lưu lại bằng chứng giao nhận tiền bằng cách ghi ngay trong Giấy vay tiền là đã nhận đủ tiền hoặc viết riêng biên nhận tiền hoặc lưu chứng từ chuyển khoản ngân hàng với số tiền và nội dung chuyển tiền đúng với Giấy nợ đã ký kết. 

Có thể ghi âm, ghi hình cuộc nói chuyện khi cho vay, viết giấy nợ. Lưu giữ sự xác nhận của các bên qua email, tin nhắn điện thoại, phương tiện điện tử khác....

 

3. Ý nghĩa của giấy nợ

- Giấy nợ có ý nghĩa trong việc xác nhận nợ của các bên liên quan.

- Khi có tranh chấp phát sinh, giấy nợ là căn cứ giúp giải quyết tranh chấp, xung đột giữa các bên. 

 

4. Câu hỏi thường gặp về giấy nợ

4.1. Giấy nợ viết tay có được xem là chứng cứ mượn tiền không?

Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, hình thức giao dịch dân sự được quy định như sau:

- Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

- Trường hợp luật quy định giao dịch dân dự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng kí thì phải tuân theo quy định đó.

Do đó, theo quy định của pháp luật thì hình thức giao dịch có thể bằng lời nói, hoặc bằng văn bản. Chính vì vậy, đối với giấy nợ viết tay đã thể hiện là một văn bản cụ thể nên được coi là chứng cứ và có giá trị pháp lý hợp pháp để khởi kiện ra Tòa án để giải quyết, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng khi có mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra giữa các bên. 

 

4.2. Vay tiền, có ghi giấy nợ nhưng không trả thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Theo quy định tại điều 175, Bộ Luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Xét trong trường hợp này, nếu vay tiền viết giấy nợ khi đến hạn mà người nợ cố tình không trả, có hành vi bỏ trốn hoặc chặn liên lạc của người cho vay thì tùy thuộc vào tính chất của vụ việc, số tiền chiếm đoạt mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó, bên cho vay có thể tố giác đến cơ quan công an về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

 

4.3. Đi tù rồi thì có được xóa nợ không? 

- Câu trả lời là không.

Các bên có thể thả thuận với bên cho vay để hoãn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi thi hành án kết thúc và phải được bên cho vay đồng ý theo quy định tại Điều 354 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. 

Điều 354. Hoãn thực hiện nghĩa vụ

1. Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghãi vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị dược hoãn việc thực hiện nghĩa vụ.

Trường hợp không thông báo cho bên có quyền thì bên có nghãi vụ phải bồi thường thiệt hại phát sinh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo.

2. Bên có nghĩa vụ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu được bên có quyền đồng ý. Việc thực hiện nghĩa vụ khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn. 

Bên cạnh đó, bên vay nợ có thể ủy quyền cho bên thứ ba để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay mình theo Điều 283 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. 

Điều 283. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba

Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. 

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê gửi đến bạn đọc mang tính chất tham khảo. Trường hợp có bất kì thắc mắc nào liên quan đến pháp luật, bạn đọc vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn miễn phí theo số 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.