Nhưng vì hàng rượu ngoại nhập về là hàng không có tem nhãn nên bị quản lý thị trường thu mất một phần,do vậy công việc kinh doanh rượu của tôi gặp khó khăn,trong thời gian đầu tư chung vốn tôi vẫn trả tiền lãi bằng lãi suất 1,2% /tháng cho anh bạn đó ,và 4 triệu một tháng coi như tiền lương làm việc.số tiền anh bạn tôi chuyển cho tôi 600 triệu đó tôi cũng đã trả lại cho anh bạn đó 130 triệu ,không tính số tiền hàng tháng tôi đã trả 1,2%/tháng. Nay công việc làm ăn thua lỗ tôi chưa khôi phục lại được để có tiền anh bạn yêu cầu tôi viết giấy vay nợ số tiền hiện tại là 500 triệu đồng,với lãi suất 1% /tháng.nhưng giấy viết tay thỏa thuận sẽ trả dần để tôi có cơ hội hoàn lại số tiền đó cho anh bạn ,giấy viết tay không có xác nhận của chính quyền mà chỉ có chữ ký của hai người và một người làm chứng thì có giá trị pháp lý không? và nếu anh bạn đó kiện tôi ra tòa vì tôi không hoàn trả số tiền đó đúng thời hạn như cam kết thì tôi có bị kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Hiện nay tôi vừa bị tòa án kết án một năm tù vì tội buôn lậu hàng hóa,tôi vừa cải tạo xong và trở về xã hội được mấy ngày anh bạn đã đến đòi tiền và dọa kiện tôi ra pháp luật nếu tôi không trả tiền.

Tôi rất mong công ty luật tư vấn giúp tôi với để tôi có thời gian làm lại và trả nợ, tôi xin cảm ơn

Bài viết được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự, công ty Luât Minh Khuê.

>>  Tư vấn pháp Luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005 ;

2. Nội dung phân tích:

>> Xem thêm:  Giá trị thời hạn của văn bản công chứng, chứng thực là bao lâu ?

Căn cứ theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Điều luật này không quy định bắt buộc về hình thức của hợp đồng vay tài sản và cũng không yêu cầu phải công chứng hoặc chứng thực đối với hợp đồng vay. Vì vậy, giấy vay nợ viết tay vẫn được coi là một hợp đồng vay tài sản và có giá trị pháp lý.

Căn cứ theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ trả nợ của người vay như sau: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn ”. Do đó, nếu người vay không thực hiện việc trả nợ cho bên cho vay theo đúng thời hạn ghi nhận trong giấy vay nợ thì bên cho vay có quyền khởi kiện người vay ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người vay cư trú để yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc và buộc người này phải hoàn trả tiền gốc và lãi vay (nếu có) cho bên cho vay. Như vậy, nếu bạn không thỏa thuận được với bạn của mình đẻ gia hạn trả nợ thì người này có thể khởi kiện bạn ra tòa để yêu cầu bạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh ta. Căn cứ Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

“Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

>> Xem thêm:  Tư vấn về cách giải quyết khi bạn mượn xe không trả ?

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Theo những thông tin bạn cung cấp thì bạn của bạn không đỉ căn cứ để tố cáo bạn về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.  Bởi bạn không dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của anh ta mà chỉ chưa thực hiện được nghĩa vụ trả nợ do tình hình tài chính của bản thân đang gặp khó khăn và bạn cũng không có hành vi trốn tránh nghĩa vụ trả nợ này. 

>> Xem thêm:  Vướng mắc về cho bạn mượn xe rồi không trả mà đem cầm cố tài sản thì nên xử lý thế nào cho hợp pháp ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phân tư vấn luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Luật Công chứng năm 2006 số 82/2006/QH11