1. Cơ sở pháp lý

STT Tội giết người Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017
2
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ)Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

Giết người hay là hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

2. Yếu tố cấu thành
2.1 Tội giết người

2.1.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội giết người được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên vì tội giết người được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 và là tội phạm rất nghiêm trọng (khoản 2) hoặc là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 1).

2.1.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tôi giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác. Trong đó, hành vi tước đoạt tính mạng người khác là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Những hành vi không có khả năng này không thể là hành vi khách quan của tội giết người như hành vi cúng hay bỏ bùa V.V.. Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động như hành động bắn, đâm, chém... Hành vi khách quan của tội giết người cũng có thể là không hành động. Đó là không hành động của người có nghĩa vụ phải hành động, phải làm những việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác. Không hành động trong những trường hợp như vậy cũng có khả năng gây ra cái chết cho con người. Ví dụ: Không cho con mình bú là không hành động của người mẹ có khả năng gây ra cái chết cho đứa trẻ.

Từ hành vi khách quan của tội giết người có thể khẳng định, đối tượng của hành vi này phải là người khác và là người đang sống. Theo đó, hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi khách quan của tội giết người. Đó là hành vi tự sát và hành vi này không bị coi là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hành vi xúi giục hoặc giúp cho người khác tự sát bị coi là hành vi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam. Hành vi tác động đối tượng không phải là người đang sống cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết người. Thời điểm bắt đầu của người đang sống được tính từ thời điểm được sinh ra (còn sống) và kết thúc khi sự sống thực sự chấm dứt. Như vậy, bào thai và thi thể đều không phải là đối tượng của hành vi khách quan của tội giết người nhưng có thể là đối tượng của hành vi khách quan của tội phạm khác.

Hành vi tước đoạt tính mạng người khác chỉ được coi là hành vi khách quan của tội giết người khi hành vi đó là trái pháp luật. Hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép không phải là hành vi khách quan của tội giết người. Ỵí dụ: Hành vi tước đoạt tính mạng người khác trong trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 22 BLHS) hay trong trường họp thi hành bản án tử hình.

Trong thực tiễn có thể còn gặp trường hợp tước đoạt tính mạng người khác do được nạn nhân yêu cầu. Động cơ của những hành vi này có thể khác nhau. Trong đó có những động cơ mang tính nhân đạo. Ví dụ-. Tước đoạt tính mạng người bị mắc bệnh hiểm nghèo nhằm tránh đau khổ kéo dài cho họ... Theo Luật hình sự Việt Nam, những trường hợp này vẫn bị coi là trái pháp luật.

2.1.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội giết người được xác định là hậu quả chết người. Theo nguyên tắc “chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả thiệt hại do chính hành vi của mình gây ra”, người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra nếu hành vi mà họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó - giữa hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác và hậu quả chết người phải có quan hệ nhân quả (QHNQ) với nhau. Việc xác định QHNQ này trong nhiều trường hợp rất phức tạp, đòi hỏi có sự hỗ trợ của giám định pháp y.

2.1.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của người phạm tội được xác định là lỗi cố ý vì “giết người” đã bao hàm lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Trường hợp giết người có lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra hoặc tất nhiên xảy ra nhưng vì mong muốn hậu quả đó nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp giết người có lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức hành vi của mình có khả năng nguy hiểm đến tính mạng người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng để đạt được mục đích của mình, người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra hay nói cách khác, người phạm tội có ý thức chấp nhận hậu quả chết người (nếu xảy ra).

Trong trường hợp hậu quả chết hgười đã xảy ra, việc xác định lỗi là cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội nhưng việc xác định này sẽ có ý nghĩa quan trọng nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra. Cụ thể:

Thứ nhất, nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt. Vỉ dụ: Do vợ không đồng ý ly hôn, người chồng đã dùng thuốc ngủ liều cao để đầu độc vợ với mong muốn vợ chết. Tuy nhiên, do được phát hiện và cấp cứu kịp thời nên người vợ không chết. Đây là trường hợp chưa gây hậu quả chết người nhưng người phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt.

Thứ hai, nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thưong tích (nếu thương tích xảy ra thoả mãn đòi hỏi của CTTP tội này) mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt). Ví dụ: Trong khi cãi nhau, do quá bực tức nên người phạm tội đã dùng dao nhọn vừa lấy được của nhà hàng đâm nhiều nhát vào người nạn nhân với suy nghĩ: “muốn ra sao thì ra” (người phạm tội không mong muốn hậu quả nạn nhân chết nhưng chấp nhận khả năng hậu quả này xảy ra). Ket quả, nạn nhân đã được cấp cứu ngay nên chỉ bị thưong tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể trên 20%. Đây là trường hợp người phạm tội có lỗi cổ ý gián tiếp nên vấn đề phạm tội chưa đạt không được đặt ra và họ chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, việc xác định lỗi của chủ thể là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp không đơn giản mà trong nhiều trường họp hết sức phức tạp. Việc xác định lỗi còn đặc biệt phức tạp hơn trong những trường hợp phải xác định lỗi của chủ thể là lỗi cố ý gián tiếp hay chỉ là lỗi vô ý quá tự tin đối với hậu quả chết người.Dấu hiệu lỗi cố ý đòi hỏi chủ thể phải nhận thức đối tượng mà hành vi hướng vào là người đang sống. Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp chủ thể có sự nhầm lẫn về tính chất của đối tượng mà hành vi của mình hướng tới. Các khả năng nhầm lẫn có thể xảy ra là:

Thứ nhất, chủ thể cho rằng đối tượng của hành vi mà mình thực hiện là người đang sống nhưng thực tế người đó đã chết hoặc đó không phải là người. Trong trường hợp này, về chủ quan, chủ thể vẫn có lỗi cố ý. Do vậy, đây vẫn là trường họp phạm tội giết người nhưng là giết người chưa đạt. Trường hợp chưa đạt này có tên là chưa đạt vô hiệu;

Thứ hai, chủ thể cho rằng đối tượng của hành vi mà mình thực hiện không phải là người đang sống (có thể là người đã chết hoặc là thú vật) nhưng thực tế lại là người đang sống. Trong trường hợp này, về chủ quan, chủ thể có sai làm nên không thể có lỗi cố ý. Do vậy, không thể có tội giết người.

Trong thực tế, hành vi cổ ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác có thể được thực hiện do các động cơ khác nhau và với các mục đích khác nhau. Tội giết người không đòi hỏi động cơ cũng như mục đích cụ thể. Do vậy, cần chú ý: Hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác vì mục đích nhất định hoặc do động cơ nhất định có thể cấu thành tội phạm khác mà không cấu thành tội giết người. Vỉ dụ: Hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác vì mục đích chống chính quyền nhân dân cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo Điều 113 BLHS; hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác vì mục đích gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng cấu thành tội khủng bố theo Điều 299 BLHS; hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 126 BLHS. Ngoài ra, cũng càn chú ý, một số động cơ phạm tội được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội giết người.

Theo các dấu hiệu pháp lý của tội giết người được phân tích trên, CTTP của tội này là CTTP vật chất. Do vậy, tội giết người được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người. Neu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội bị coi là tội giết người chưa đạt (khi lỗi của chủ thể là cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích (khi lỗi của chủ thể là cố ý gián tiếp và hậu quả thương tích đã xảy ra đủ cấu thành tội phạm này).

2.2 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Điều luật gồm 6 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; các khoản từ khoản 2 đến khoản 5 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 6 quy định trường hợp chuẩn bị phạm tội.

2.2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 14 tuổi trở lên trong trường hợp hành vi phạm tội thuộc các khoản 3, 4 và 5 còn trong trường hợp hành vi phạm tội thuộc các khoản 1 và 2 thì là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

2.2.2 Dấu hiệu hành vỉ khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này được quy định là hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đó là các hành vi có khả năng gây ra thương tích hoặc tổn thương khác làm tốn hại đến sức khoẻ của con người. Những hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội hoặc có thể thông qua súc vật hay cơ thể người khác...

2.2.3 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm được quy định là thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe ở mức độ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% trở lên hoặc dưới tỷ lệ đó nhưng hành vi được thực hiện có một trong các dấu hiệu sau:

a) Dùng vũ khí, vật liệu no, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người: Đây là trường hợp chủ thể đã sử dụng công cụ phạm tội hoặc thủ đoạn phạm tội có đặc điểm làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích hoặc hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đe hiểu đúng và đầy đủ trường họp này cần thống nhất về nhận thức các khái niệm sau:

+ Vũ khí: Vũ khí ở đây bao gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ (dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu...), vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự (được chế tạo, sản xuất thủ

+ Vật liệu nổ ở đây bao gồm thuốc nổ và phụ kiện nổ (kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ,...).

+ Hung khí nguy hiểm ở đây được hiểu là công cụ phạm tội có tính nguy hiểm cho con người cao hơn các công cụ phạm tội thông thường nhưng không phải là vũ khí, vật liệu nổ như xà beng, búa tạ...

+ Thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người ở đây được hiểu là thủ đoạn có khả năng gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe không chỉ cho một người mà cho nhiều người như thủ đoạn bỏ hoá chất gây ngộ độc vào thức ăn chung của gia đình...

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm: Đây là trường hợp chủ thể đã sử dụng phương tiện phạm tội có tính nguy hiểm cao. Trong đó, a-xít nguy hiểm được hiểu là a-xít có khả năng gây tổn thương cho các bộ phận cơ thể người khi có sự tiếp xúc giữa a-xít này với cơ thể người; hóa chất nguy hiểm được hiểu là hóa chất bất kỳ, không phải là a-xít nhưng có khả năng gây tổn hại cho sức khỏe của con người.

c) Đổi với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ổm đau hoặc người không có khả năng tự vệ: Đây là trường họp nạn nhân của hành vi phạm tội là các đối tượng yếu thế cần được ưu tiên bảo vệ và do vậy mà làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe.

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người

nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình: Đây là trường họp nạn nhân của hành vi phạm tội là các đối tượng có quan hệ đặc biệt với chủ thể thực hiện hành vi nên làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe.

đ) Có tổ chức: Đây là trường họp hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện dưới hình thức đồng phạm mà trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm. Hình thức thực hiện này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi gây thưong tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp hành vi gây thưong tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn và họ đã lợi dụng điều này khi thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Việc lợi dụng này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đây là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người sức khỏe của người khác trong hoàn cảnh tương đối đặc biệt. Theo đó, họ có thể là người có đặc điểm nhân thân xấu “đã bị kết án phạt tù ” hoặc “đã bị xử lý vỉ phạm hành chỉnh Việc quy định đặc điểm nhân thân xấu là dấu hiệu định tội của tội phạm này cũng như việc quy định đặc điểm “đã bị kết án ” nói chung hoặc đặc điếm “đã bị xử phạt vi phạm hành chính ” hoặc đặc điểm “đã bị xử lỷ kỷ luật” là dấu hiệu định tội ở một số tội khác là vấn đề đang có tranh luận. Có ý kiến cho rằng, việc quy định này là chưa phù họp với nguyên tắc: “Không được truy cứu trách nhiệm hình sự một người về đặc điểm nhân thân của họ”. Việc quy định đặc điểm nhân thân xấu là dấu hiệu định tội đã dẫn đến bất hợp lý của các CTTP có dấu hiệu này về kỹ thuật lập pháp cũng như có thể dẫn đến bất họp lý trong thực tiễn xét xử.

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê: Đây là trường hợp hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện dưới hình thức đồng phạm mà trong đó có người thuê và người được thuê thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

ì) Có tính chất côn đồ: Đây là trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tất cả những tình tiết của vụ án thể hiện người phạm tội có tính hung hãn cao độ, quá coi thường sức khỏe của người khác, sẵn sàng phạm tội vì những nguyên cớ nhỏ nhặt.

k) Đối với người đang thỉ hành công vụ hoặc vĩ lý do công vụ của nạn nhân: Đây là trường họp mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ hoặc là trường hợp mà động cơ của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân (để không cho nạn nhân thi hành công vụ hoặc để trả thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ).

Như vậy, những trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ có tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và không thuộc các trường hợp nêu trên là trường hợp chưa cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

Khi đã xác định có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ và có hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe, đòi hỏi phải xác định QHNQ giữa hành vi khách quan đã thực hiện và hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe đã xảy ra.

2.2.4 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của người phạm tội được quy định là lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp. Người phạm tội có thể mong muốn hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khoẻ nhưng cũng có thể chỉ chấp nhận các hậu quả này.

Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê