1. Góp vốn bằng giá trị thương hiệu như thế nào ?

Thương hiệu là gì ? Thương hiệu được tạo ra như thế nào và được xác định giá trị như thế nào ? Chủ sở hữu thương hiệu có thể sử dụng thương hiệu để góp vốn trong thành lập DN hoặc liên doanh liên kết hay không ? Đó là những vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của khá nhiều doanh nhân và công dân VN.

Viettel - một trong những thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam nhưng chưa được định giá cụ thể


Thương hiệu, có thể hiểu đơn giản: đó là cái tên thương mại của một DN hoặc sản phẩm. Đó tất nhiên phải là một tên riêng, không thể có sự nhầm lẫn với những tên thương mại khác. Trên thị trường quốc tế, chúng ta đã quen với các tên thương mại như CocaCola, Pepsi, Samsung, Panasonic, LG, Siemens, Ford, Daiewoo... Ở trong nước, một số thương hiệu mạnh cũng đã được biết đến như Trung Nguyên, Nhật Linh, Kẹo dừa Bến Tre, Võng xếp Duy Lợi, Kinh Đô, Habeco, Sabeco, Halida...

Vô hình mà hữu hình

Thương hiệu không thể hình thành trong "một sớm, một chiều". Bên cạnh các chi phí không ít cần phải có để quảng bá thương hiệu, việc đảm bảo chất lượng của hàng hoá, dịch vụ gắn với thương hiệu được quảng bá có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều lần. Bởi lẽ, việc quảng bá sẽ trở thành phản tác dụng nếu thương hiệu không gắn liền với hàng hoá, dịch vụ có chất lượng tốt. Để tạo ra thương hiệu cần một lượng vốn nhất định. Đó là chi phí đầu tư. Thời gian đầu tư dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ và thị trường tiêu thụ. Vì vậy, thương hiệu là một tài sản - tài sản vô hình - của DN.

Là một tài sản nên thương hiệu được định giá. Điều quan trọng là, giá trị của thương hiệu khi được thị trường thừa nhận thường lớn hơn chi phí để tạo ra nó nhiều lần.

Tất nhiên, cũng có không ít trường hợp thương hiệu bị "mất giá" vì nó gắn với một DN kinh doanh kém hiệu quả, chất lượng của hàng hoá, dịch vụ cung ứng không đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, đầu tư cho thương hiệu là một dự án đầu tư lớn của DNvà cũng có độ rủi ro khá cao.

Giá trị thương hiệu ở VN

Đã qua hơn 20 năm vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường, song giá trị của tài sản vô hình nói chung, giá trị của thương hiệu nói riêng, ở nước ta vấn chưa được đánh giá đúng mức. Các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chưa tạo ra một hành lang pháp lý đầy đủ cho việc xác định giá trị thương hiệu và sử dụng nó vào hoạt động kinh doanh. Chuẩn mực kế toán VN số 04 "TS cố định vô hình" ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã không coi thương hiệu là một tài sản cố định vô hình của DN. Lợi thế thương mại của DN là chỉ tiêu gắn liền với thương hiệu và Chuẩn mực kế toán VN số 04 quy định: "Lợi thế thương mại được tạo ra từ nội bộ DN không được ghi nhận là tài sản vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định, không đánh giá được một cách đáng tin cậy và DN không kiểm soát được".

Mặc dù vậy, để xác định giá trị DN khi cổ phần hoá các DN nhà nước, không thể bỏ qua giá trị thương hiệu. Vì vậy, Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành Cty cổ phần quy định: "Giá trị lợi thế kinh doanh của DNcổ phần hoá gồm giá trị lợi thế về vị trí địa lý, giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển". Thông tư số 146/2007/TT-BTC ngày 06 /12/2007 của Bộ Tài chính "Hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo NĐ109/2007/NĐ-CP" quy định "Lợi thế kinh doanh xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu" và "Giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất được xác định bằng chênh lệch giữa giá đất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường so với giá do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định và công bố vào ngày 01/01 của năm thực hiện xác định giá trị DN". Về giá trị thương hiệu, Thông tư 146 quy định: "Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệ nhãn mác, tên thương mại của DN trong 10 năm trước thời điểm xác định giá trị DN hoặc kể từ ngày thành lập đối với các DN có thời gian hoạt động của DN ít hơn 10 năm (bao gồm cả chi phí quảng cáo, tuyên truyền trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, Cty; xây dựng trang web...)". Quy định nêu trên của Thông tư 146 là quy định pháp lý duy nhất ở VN liên quan đến việc xác định giá trị thương hiệu. Song, rất đáng tiếc, Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Thông tư số 146/2007/TT-BTC chỉ có ý nghĩa đối với việc cổ phần hoá các DN Nhà nước. Do đó, việc xác định giá trị, nhượng quyền sử dụng thương hiệu, góp vốn liên doanh, liên kết... bằng giá trị thương hiệu đối với các DN thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta đến nay vẫn còn là... một khoảng trống pháp lý.

Việc cần làm ngay

Ở các nước phát triển trên thế giới, thương hiệu đã được coi là một tài sản có giá trị lớn của DN. Việc góp vốn liên doanh, liên kết, chuyển nhượng thương hiệu... đã được thực hiện một cách phổ biến. Để khuyến khích các DN VN quan tâm tới việc tạo dựng thương hiệu và hướng tới mục tiêu trong tương lai không xa, VN sẽ có những thương hiệu mạnh trên thị trường quốc tế, có những việc cần làm ngay sau đây:

Thứ nhất, ban hành ngay một văn bản quy phạm pháp luật thừa nhận thương hiệu là một tài sản vô hình của DN và hướng dẫn cách xác định giá trị thương hiệu để các DN ghi nhận giá trị thương hiệu vào Bảng cân đối kế toán của mình. Đó là cơ sở pháp lý để góp vốn liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, nhượng quyền thương mại.. .bằng giá trị thương hiệu. Đây là vấn đề quan trọng nhất và phức tạp nhất ở nước ta hiện nay. Trong buổi toạ đàm về "quản lý và phát triển tài sản vô hình tại DN" do VCCI tổ chức ngày 31/3/2010, giáo sư Hanado Waseda đến từ Trường Đại học Kinh tế Nhật Bản cho rằng, việc xác định và ghi nhận giá trị thương hiệu ở VN hiện nay gặp một khó khăn chưa thể giải quyết được. Nguyên nhân cơ bản là, các chuẩn mực kế toán VN hiện nay được thiết kế theo nguyên tắc ghi nhận giá trị tài sản từ chi phí phát sinh tạo ra nó. Trong khi đó, việc ghi nhận giá trị thương hiệu chỉ có thể thực hiện nếu các chuẩn mực kế toán cho phép ghi nhận giá trị tài sản từ lợi ích sẽ thu được của tài sản đó trong tương lai.

Thứ hai, cần tạo ra một hành lang pháp lý cho phép các DN được góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết bằng giá trị thương hiệu. Trong thực tế hiện nay, có khá nhiều trường hợp đã thoả thuận góp vốn thành lập DN, liên doanh, liên kết... bằng giá trị thương hiệu. Song, do chưa có hành lang pháp lý đầy đủ cho nên những trường hợp góp vốn đó chưa được pháp luật thừa nhận. Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ "hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN" đã được soạn thảo. Điều 5 của DT nghị định này quy định: "Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm đối tượng quyền tác giả, đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và đối tượng quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Luật SHTT. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn. Việc định giá trong trường hợp này được thực hiện theo Điều 30 Luật DN". Quy định nêu trên còn chung chung, chưa tạo ra những điều kiện cần và đủ để các DN có thể góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Song, đó cũng là một tín hiệu vui đối với các DN đã và đang tạo dựng được thương hiệu mạnh.

Thứ ba, cần có một Thông tư hướng dẫn về phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình nói chung, thương hiệu nói riêng và áp dụng cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Một thông tư như vậy hoàn toàn có thể ban hành mà không nhất thiết phải sửa lại hệ thống các chuẩn mực kế toán đã ban hành. Hơn nữa, trong trường hợp góp vốn thành lập DN bằng giá trị thương hiệu, hoàn toàn có thể cho phép việc xác định giá trị thương hiệu để góp vốn là do các thành viên góp vốn hoặc các cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí. Đó là cơ sở pháp lý đã được quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật DN 2005.

Trong nền kinh tế trí thức, tài sản vô hình có vị trí rất quan trọng và do đó, chúng cũng có giá trị lớn. Tháo gỡ những khó khăn hiện nay để các DN quan tâm, phát triển tài sản vô hình - thương hiệu là cấp thiết.


Ông Lý Quý Trung : Phải được chứng minh bằng báo cáo tài chính

Các Chuẩn mực kế toán VN hiện hành không hề ngăn cấm việc góp vốn bằng nhãn hiệu (hay "thương hiệu" như các DN thường gọi). Chuẩn mực kế toán cũng không hề bác bỏ sự tồn tại của tài sản cố định vô hình là nhãn hiệu. Trên thực tế đối chiếu với Chuẩn mực kế toán số 04 - TSCĐ vô hình và Chuẩn mực Kế toán số 01 - Chuẩn mực chung thì "nhãn hiệu" hoàn toàn thoả mãn định nghĩa của một tài sản (DN kiểm soát được - nếu đã đăng ký bảo hộ; có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai; hình thành từ các giao dịch trong quá khứ).

Tuy nhiên, một khoản mục thoả mãn định nghĩa tài sản cố định vô hình không có nghĩa là nó sẽ được ghi nhận trên báo cáo tài chính. Để một khoản mục thoả mãn định nghĩa tài sản được ghi nhận thì còn phải thoả mãn 4 tiêu chuẩn nữa (Đoạn 16 Chuẩn mực Kế toán số 04), trong đó có yêu cầu "Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy" (vì sao lại có quy định này thì xin được bàn vào một dịp khác). Đây là lý do chính vì sao tài sản cố định vô hình tạo ra từ nội bộ DN không được ghi nhận là tài sản của DN.

Giá trị thương hiệu trong các DN cổ phần hoá này thường được xác định bởi Cty mẹ (là cổ đông chi phối), do đó không phải là giá trị hợp lý để được coi là đáng tin cậy. Như vậy, việc không cho phép ghi nhận giá trị nhãn hiệu là tài sản cố định vô hình trên báo cáo tài chính trong trường hợp này là có căn cứ.

Có người cho rằng việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành thông lệ rất phổ biến trên thế giới nên quy định của chuẩn mực kế toán VN không cho phép ghi nhận tài sản vô hình là không phù hợp. Tuy nhiên, những tài sản vô hình đem đi góp vốn đó đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính của bên đi góp vốn hay chưa chưa được đề cập rõ. Vấn đề chỉ nảy sinh khi các DN sử dụng những tài sản vô hình chưa được ghi nhận trên báo cáo tài chính của mình để góp vốn (ví dụ: Trên báo cáo tài chính của TCty A không hề có khoản mục tài sản "Thương hiệu A" nhưng khi định giá một DNthành viên để cổ phần hoá thì lại xác định giá trị "Thương hiệu A" là 10 tỷ đồng, tính vào vốn góp của TCty A trong Cty cổ phần mới). Trong trường hợp này giá trị "Thương hiệu A" sẽ không được ghi nhận trên báo cáo tài chính của Cty cổ phần mới thành lập theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Cũng xin nói thêm là Chuẩn mực Kế toán quốc tế đều không cho phép ghi nhận tài sản vô hình tạo ra từ nội bộ DN là tài sản.

Vì vậy, việc không cho phép ghi nhận tài sản cố định vô hình (thương hiệu) tạo ra từ nội bộ DN như quy định hiện hành của Chuẩn mực kế toán VN là phù hợp với thông lệ quốc tế.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền

>> Xem thêm:  Luật Minh Khuê tuyển dụng vị trí nhân viên phòng Sở hữu trí tuệ

2. Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu dưới góc nhìn pháp lý ?

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo thông tư hướng dẫn việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu. Đây được coi là chìa khóa tháo gỡ vướng mắc về chế độ kế toán trong việc xác định tài sản cố định vô hình (nhãn hiệu hàng hóa) và thúc đẩy sự ra đời của nhiều DN mới.

Luật DN đã cho phép chủ sở hữu được phép góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ nhưng nhiều điều luật quy định khác còn khiến DN lúng túng. Do đó mà hình thức góp vốn này tại nước ta chưa được thực hiện nhiều và không theo đúng quy định.

Những tồn tại

Nhãn hiệu hàng hóa đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của một DN, vì vậy, góp vốn bằng giá trị sử dụng nhãn hiệu là một giải pháp hiệu quả giúp các DN mới đến với thành công nhanh hơn. Tuy nhiên hiện nay chưa có quy định rõ ràng về định giá nhãn hiệu và đặc biệt là về việc góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa.

Ở VN hiện nay, do chưa có văn bản nào quy định riêng về việc góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa nên việc góp vốn thường được lập hợp đồng như các loại hợp đồng góp vốn thông thường. Các bên sẽ xác định giá trị nhãn hiệu hàng hóa theo thỏa thuận và theo đó lập hợp đồng góp vốn, trong đó quy định rõ tỷ lệ góp vốn là bao nhiêu và nghĩa vụ, quyền lợi các bên như các loại hợp đồng thương mại thông thường. Khó khăn xảy ra là việc các DN thực hiện góp bằng nhãn hiệu hàng hóa, vốn chưa được định giá, song lại ghi trong giấy đăng ký kinh doanh là “góp vốn bằng tiền”. Và chính “hành động góp vốn bằng tiền nhưng lại không có tiền” này sẽ gây rắc rối cho hệ thống kế toán; đồng thời, gây ra rất nhiều vướng mắc nếu DN góp vốn muốn rút vốn, hay DN nhận vốn góp không muốn tiếp tục hợp tác.

Youtube video

Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu độc quyền tại Việt Nam 1900.6162

Thêm một vấn đề nữa, hiện nay việc một số DN với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng mang tên đi góp vốn với nhiều đối tác trong nhiều lĩnh vực không được đánh giá cao. Một nhãn hiệu hàng hóa đem góp vốn vào nhiều DN khác nhau có thể bị pha loãng giá trị. Ngược lại, có thể xảy ra trường hợp bên nhận góp vốn lạm dụng thương hiệu, làm giảm giá trị thương hiệu. Ngoài ra, vì là một phần quan trọng được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo vệ nên khi muốn đăng ký góp vốn bằng nhãn hiệu, các DN phải đảm bảo các điều kiện về việc xác định giá trị nhãn hiệu. Chẳng hạn như, nhãn hiệu hàng hóa phải đảm bảo yếu tố giới hạn về không gian và thời gian... song, trên thực tế nhiều DN chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện này nhưng họ vẫn thực hiện các thủ tục góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa và có thể gặp rắc rối, rủi ro.

Cần hướng dẫn cụ thể

Tại VN, mặc dù các quy định pháp luật về góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa chưa đầy đủ và rõ ràng, nhu cầu của các DN là có thực và ngày càng tăng, nên chúng ta cần xây dựng được hành lang pháp lý đầy đủ. Bà Phan Thị Ngọc Lan - Giám đốc Cty Alnguyên cho rằng chúng ta cần những văn bản hướng dẫn chi tiết cho việc góp vốn bằng nhãn hiệu hàng hóa nhằm tránh việc trục lợi và tạo nên được một hành lang pháp lý thuận lợi hơn, mà đầu tiên là phải có những căn cứ để đánh giá giá trị của nhãn hiệu. Thêm vào đó, cần có một Thông tư hướng dẫn về phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình nói chung, thương hiệu nói riêng và áp dụng cho các DN.

Cùng chung quan điểm đó, ông Lê Hải Đoàn - Phó Tổng giám đốc Cty kiểm toán quốc tế Unistars cho rằng, Luật DN ghi rõ là được phép góp vốn bằng tài sản mang tính chất là sở hữu trí tuệ, do vậy pháp luật thừa nhận điều này nên chúng ta cần có hành lang pháp lý, hay những tổ chức định giá công minh để DN có thể hạch toán được tài sản và được công nhận.

Vướng mắc trong chuẩn mực kế toán số 4 của Bộ Tài chính là khó khăn mà rất nhiều DN mong mỏi được giải quyết. Theo đó, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thừa nhận thương hiệu là một tài sản vô hình của DN và hướng dẫn cách xác định giá trị thương hiệu để họ ghi nhận giá trị thương hiệu vào bảng cân đối kế toán của mình. Đó là cơ sở pháp lý để góp vốn liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, nhượng quyền thương mại... bằng giá trị thương hiệu.

(LUATMINHKHUE.VN: Biên bập.)

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến Uy Tín, Chuyên Nghiệp

3. Góp vốn bằng thương hiệu#8; cần được cởi trói ?

Góp vốn bằng thương hiệu là thực tế đang diễn ra khá sôi động, đi trước các quy định của luật pháp. Dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu do bộ Tài chính soạn thảo đang được đề xuất tạm dừng để nghiên cứu thêm vì không bao quát được thực tế.

Dự thảo thông tư này chỉ quy định về việc góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu đang trong thời hạn bảo hộ tại Việt Nam.

Theo đó, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, các bên góp vốn có thể lựa chọn phương pháp định giá giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu phù hợp với quy định hiện hành về thẩm định giá. Giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu góp vốn vào các doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông thống nhất. Giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu góp vốn được xác định thông qua một tổ chức chuyên nghiệp thẩm định giá.

Youtube video

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 1900.6162

Về giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu khi đem góp vốn, dự thảo quy định nó được ghi nhận là một khoản đầu tư của bên góp vốn, không được phản ánh tăng tài sản, tăng nguồn vốn chủ sở hữu của bên góp vốn. Bên góp vốn có trách nhiệm mở sổ theo dõi riêng ngoài bảng cân đối kế toán đối với giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu đã đầu tư tham gia góp vốn; thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng góp vốn sao cho phù hợp với pháp luật và điều lệ của công ty nhận vốn góp. Bên góp vốn được chia cổ tức từ phần vốn góp bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu. Bên góp vốn đã thực hiện việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu thì không được chuyển nhượng nhãn hiệu đó cho tổ chức, cá nhân khác trong thời hạn góp vốn.

Đối với bên nhận góp vốn, giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu được ghi tăng tài sản dài hạn khác và ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán và là cơ sở để phân chia lợi nhuận, chi trả cổ tức cho bên góp vốn theo tỷ lệ tham gia. Bên nhận góp vốn không được phát hành cổ phiếu tương ứng với giá trị nhãn hiệu nhận vốn góp. Khi hết hạn hợp đồng góp vốn, doanh nghiệp nhận góp vốn được hạch toán giảm giá trị tài sản dài hạn khác, giảm nguồn vốn chủ sở hữu tương ứng với giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu mà trước đây doanh nghiệp đã ghi trên bảng cân đối kế toán.

Góp ý cho dự thảo, bộ Khoa học và công nghệ, các tập đoàn Điện lực Việt Nam, Than – khoáng sản, Dầu khí đều đề nghị: việc định giá quyền sử dụng nhãn hiệu có thể do các bên tự thoả thuận. Tuy nhiên, phía ban soạn thảo lại cho rằng: việc này cần thông qua tổ chức có chức năng định giá, do đây là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, dễ dẫn đến tình trạng tranh chấp. Khi tham gia nội dung này vào năm 2006, vụ Chế độ kế toán và kiểm toán cũng có ý kiến là việc này phải do công ty thẩm định giá độc lập tiến hành.

Một điều còn gây tranh cãi là nên hay không nên cho phép bên nhận góp vốn được phát hành cổ phiếu tương ứng với giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu. Phía uỷ ban Chứng khoán, tập đoàn Cao su, Sông Đà đề xuất được phát hành, còn ban soạn thảo thì bảo “không”. Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp thuộc Văn phòng Chính phủ, vụ Chính sách thuế – bộ Tài chính đều cho rằng, do đây là vấn đề mới, chưa lường hết được các tác động của chính sách đối với doanh nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung nên cần thiết phải có đánh giá chi tiết trên nhiều khía cạnh khác nhau.

Dự thảo đang chờ đánh giá, rút kinh nghiệm từ thực tế, song quá trình cổ phần hoá trong những năm qua chứng tỏ dự thảo vẫn chưa bao quát hết và vì vậy, không khả thi. Do vậy, ban soạn thảo đang đề xuất bộ Tài chính tạm dừng để tiếp tục nghiên cứu thảo luận thêm.

(LUATMINHKHUE.VN: Biên tập.)

>> Tham khảo dịch vụ liên quan:

1. Dịch vụ tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ;

>> Xem thêm:  Dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền tại Việt Nam

4. Góp vốn bằng thương hiệu nhu cầu từ thực tiễn cuộc sống

Góp cổ phần bằng thương hiệu (tên thương mại, nhãn hiệu…) đã và đang diễn ra mỗi nơi một kiểu trong khi cơ quan quản lý chưa có sự thống nhất. Dự thảo thông tư hướng dẫn thực hiện góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu do bộ Tài chính soạn thảo được trình làng từ năm 2010 nhưng hiện vẫn… tắc.

Việc góp cổ phần bằng thương hiệu (tên thương mại, nhãn hiệu…) hiện đang được các doanh nghiệp linh động thực hiện theo kiểu mỗi nơi một cách.

Mỗi nơi mỗi kiểu

Được tiếng là thương hiệu tốt, cái tên Sông Đà của tổng công ty Sông Đà được chia năm sẻ bảy cho các công ty con theo kiểu hoa thơm mỗi người hưởng tí như công ty cổ phần (CTCP) Sông Đà 909 (S99), CTCP Sông Đà 10 (SDT). Tương tự như vậy là trường hợp của tổng công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex) đối với CTCP Cơ giới lắp máy và xây dựng (VMC).

Youtube video

Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu quyền tại Việt Nam 1900.6162

Báo cáo kiểm toán năm 2007 của S99, SDT và VMC đã được thực hiện bởi công ty TNHH Kiểm toán và định giá Việt Nam (VAE). Kiểm toán viên cho rằng việc đơn vị nhận góp vốn ghi nhận giá trị thương hiệu của đơn vị góp vốn là tài sản cố định vô hình và trích khấu hao cho phần tài sản cố định vô hình này là chưa có cơ chế tài chính, chưa được chế độ kế toán hiện hành hướng dẫn.

Cùng là thương hiệu Sông Đà, nhưng tại các doanh nghiệp khác nhau lại được ghi nhận giá trị vốn góp khác nhau. Cụ thể, theo báo cáo kiểm toán 2007 khoản góp vốn bằng thương hiệu của tổng công ty Sông Đà tại S99 là 250 triệu đồng, khấu hao luỹ kế đến hết năm 2007 là 28 triệu đồng; tại SDT là 4,93 tỉ đồng, khấu hao luỹ kế đến hết 2007 là 1,214 tỉ đồng và tại VMC là 300 triệu đồng.

Sau khi có báo cáo kiểm toán 2007, S99 và SDT vẫn chuyển phần ghi nhận vốn góp bằng thương hiệu của tổng công ty Sông Đà là vốn cố định vô hình nhưng không thực hiện khấu hao. Báo cáo kiểm toán các công ty này trong năm 2008 không thấy có lưu ý (người đọc) về việc góp vốn của cổ đông bằng giá trị thương hiệu nữa.

Ngoài ra, thương hiệu Sông Đà cũng được dùng để góp vốn vào CTCP Xây dựng hạ tầng Sông Đà (SDH). Cụ thể, thương hiệu này được ghi nhận tại thời điểm sau đại hội cổ đông ngày 9.7.2004 là 770 triệu đồng, được tính vào tài sản cố định vô hình. Khi văn bản hướng dẫn của tổng cục Thuế ban hành năm 2006 không đồng ý việc góp vốn bằng thương hiệu thì SDH chuyển khoản này thành chi phí trả trước dài hạn.

Ghi là góp vốn bằng tiền

Ở Việt Nam hiện nay, do chưa có văn bản nào quy định riêng về việc góp vốn bằng thương hiệu nên việc góp vốn thường được lập hợp đồng như các loại hợp đồng góp vốn thông thường.

Bất cập là các doanh nghiệp thực hiện góp bằng thương hiệu, vốn chưa được định giá, song lại ghi trong giấy đăng ký kinh doanh là “góp vốn bằng tiền”. Hành động góp vốn bằng tiền nhưng lại không có tiền này sẽ gây rắc rối cho hệ thống kế toán đồng thời sẽ gây ra rất nhiều vướng mắc nếu doanh nghiệp góp vốn muốn rút vốn hay doanh nghiệp nhận vốn góp không muốn tiếp tục hợp tác.

Nhiều câu hỏi đã và đang được đặt ra: xác định giá trị thương hiệu như thế nào, ai xác minh việc xác định này có hợp lý hay không? Nó mang lại lợi ích cụ thể gì cho doanh nghiệp? Trong khi chưa tìm được câu trả lời rõ ràng, bộ Tài chính đã nói không với yêu cầu được góp vốn bằng thương hiệu của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp các doanh nghiệp “lách” hoặc “chui” để góp vốn bằng cách này hoặc cách khác. Trong khi các văn bản của ngành tài chính không thừa nhận loại tài sản vô hình này là tài sản, thì giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp lớn vẫn đang hiển hiện và có giá trị rất lớn đối với một doanh nghiệp mới thành lập được khoác chiếc áo “có họ hàng”. Theo ông Bùi Văn Mai, phó chủ tịch thường trực kiêm tổng thư ký hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), để lách quy định cấm của bộ Tài chính, có doanh nghiệp đã hạch toán thương hiệu vào mục “phí thuê thương hiệu”.

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó.

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

(Theo luật Sở hữu trí tuệ)

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Thủ tục giảm vốn điều lệ công ty TNHH 2 (hai) thành viên trở lên

5. Luận bàn về vấn đề góp vốn bằng thương hiệu

Trước bài viết này, đã có nhiều bài viết khác trong và ngoài SAGA, của nhiều nhà nghiên cứu, luật sư,… về vấn đề thương hiệu và sử dụng thương hiệu làm vốn góp kinh doanh. Với chuyên môn của mình, tôi cũng xin đóng góp một số nhận định về vấn đề này.

Thứ nhất, xin khẳng định ngay các Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành không hề ngăn cấm việc góp vốn bằng nhãn hiệu (hay “thương hiệu” như các doanh nghiệp thường gọi). Chuẩn mực kế toán chỉ hướng dẫn phương pháp kế toán để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh chứ không quy định những nghiệp vụ nào doanh nghiệp được phép tiến hành (và đương nhiên không cấm doanh nghiệp góp vốn bằng nhãn hiệu).

Có tác giả đã viện dẫn quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 11/2005/NĐ-CP để chứng minh rằng “nhãn hiệu” đủ điều kiện là tài sản, qua đó cho rằng quy định của Chuẩn mực kế toán hiện hành là không hợp lý khi không cho phép ghi nhận thương hiệu (tạo ra từ nộ bộ doanh nghiệp) là tài sản cố định vô hình. Có lẽ tác giả đã nhầm lẫn giữa tiêu chuẩn để xác định một khoản mục thỏa mãn định nghĩa tài sản và tiêu chuẩn để ghi nhận tài sản đó trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Chuẩn mực kế toán hiện hành không hề bác bỏ sự tồn tại của tài sản cố định vô hình là nhãn hiệu. Trên thực tế đối chiếu với Chuẩn mực kế toán số 04 – TSCĐ vô hình và Chuẩn mực Kế toán số 01 – Chuẩn mực chung thì “nhãn hiệu” hoàn toàn thoả mãn định nghĩa của một tài sản (doanh nghiệp kiểm soát được – nếu đã đăng ký bảo hộ; có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai; hình thành từ các giao dịch trong quá khứ).

Youtube video

Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu quyền tại Việt Nam 1900.6162

Tuy nhiên, một khoản mục thoả mãn định nghĩa tài sản cố định vô hình không có nghĩa là nó sẽ được ghi nhận trên báo cáo tài chính. Để một khoản mục thoả mãn định nghĩa tài sản được ghi nhận thì còn phải thoả mãn 4 tiêu chuẩn nữa (Đoạn 16 Chuẩn mực Kế toán số 04), trong đó có yêu cầu “Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy” (vì sao lại có quy định này thì xin được bàn vào một dịp khác). Đây là lý do chính vì sao tài sản cố định vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản của doanh nghiệp.

Trong trường hợp góp vốn, tác giả cho rằng nhãn hiệu đủ điều kiện ghi nhận là tài sản cố định vô hình vì giá trị được xác định bởi các thành viên, cổ động sáng lập theo nguyên tắc nhất trí. Như vậy, theo tác giả thì giá trị tài sản vô hình được xác định theo phương thức này là “đáng tin cậy”? Về bản chất, các thành viên sáng lập chính là chủ doanh nghiệp, vì vậy sự thống nhất giữa những thành viên này thực chất chính là sự thống nhất trong “nội bộ” doanh nghiệp.

Do yếu tố không khách quan này mà việc xác định giá trị của thương hiệu dùng để góp vốn không bảo đảm tính “đáng tin cậy”, theo đó không thoả mãn điều kiện ghi nhận tài sản cố định vô hình. Ngoài ra, thực tế quá trình cổ phần hoá các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam hiện nay cho thấy phần lớn cổ phần được sở hữu bởi các doanh nghiệp vốn là thành viên của các tổng công ty trước đây.

Giá trị thương hiệu trong các doanh nghiệp cổ phần hoá này thường được xác định bởi công ty mẹ (là cổ đông chi phối), do đó không phải là giá trị hợp lý (là giá trị được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá) để được coi là đáng tin cậy. Như vậy, việc không cho phép ghi nhận giá trị nhãn hiệu là tài sản cố định vô hình trên báo cáo tài chính trong trường hợp này là có căn cứ.

Thứ hai, có tác giả cho rằng việc góp vốn bằng giá trị quyền s hữu trí tuệ đã trở thành thông lệ rất phổ biến trên thế giới nên quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam không cho phép ghi nhận tài sản vô hình là không phù hợp. Tuy nhiên, tác giả không đề cập rõ những tài sản vô hình đem đi góp vn đó đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính của bên đi góp vốn hay chưa. Nếu như đó là những tài sản đã được ghi nhận trên báo cáo tài chính của bên đi góp vốn theo đúng chuẩn mực kế toán hiện hành thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng để góp vốn và bên nhận có thể được ghi nhận là tài sản cố định vô hình.

Vấn đề chỉ nảy sinh khi các doanh nghiệp sử dụng những tài sản vô hình chưa được ghi nhận trên báo cáo tài chính của mình để góp vốn (ví dụ: Trên báo cáo tài chính của Tổng Công ty A không hề có khoản mục tài sản “Thương hiệu A” nhưng khi định giá một doanh nghiệp thành viên để cổ phần hoá thì lại xác định giá trị “Thương hiệu A” là 10 tỷ đồng, tính vào vốn góp của Tổng Công ty A trong công ty cổ phần mới).

Trong trường hợp này giá trị “Thương hiệu A” sẽ không được ghi nhận trên báo cáo tài chính của công ty cổ phần mới thành lập theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Cũng xin nói thêm là Chuẩn mực Kế toán quốc tế cũng như Chuẩn mực kế toán Mỹ đều không cho phép ghi nhận tài sản vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp là tài sản.

Cuối cùng, cũng tác giả trên cho rằng nếu không công nhận giá trị thương hiệu khi góp vốn thì doanh nghiệp sẽ không có nguồn để hoàn trả vốn góp cho nhà đầu tư vì không được khấu hao tài sản này. Trên thực tế nguồn để doanh nghiệp hoàn trả vốn cho nhà đầu tư là luồng tiền tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp sau khi thanh toán cho các chủ nợ.

Như vậy, yếu tố quyết định doanh nghiệp có đủ khả năng hoàn vốn cho nhà đầu tư hay không nằm ở hiệu quả hoạt động kinh doanh chứ không phải ở việc có khấu hao một tài sản hay không (có chăng là nếu nhãn hiệu được chấp nhận là tài sản thì khấu hao sẽ được coi là chi thí hợp lệ, theo đó doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản thuế). Nếu như quả thực thương hiệu có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp thì việc có ghi nhận nó trên bảng cân đối kế toán hay không (hoặc có trích khấu hao hay không) không hề ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của doanh nghiệp, hay khả năng hoàn vốn cho nhà đầu tư.

Tóm lại, việc không cho phép ghi nhận tài sản cố định vô hình (cụ thể là thương hiệu) tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp như quy định hiện hành của Chuẩn mực kế toán Việt Nam là phù hợp với thông lệ quốc tế. Tất nhiên, có ý kiến cho rằng chuẩn mực kế toán quốc tế cũng chưa phải là hoàn hảo. Điều này là đúng. Tuy nhiên, trong điều kiện chúng ta đang hội nhập với thế giới thì việc bảo đảm một hệ thống chuẩn mực kế toán phù hợp với chuẩn mực quốc tế (mặc dù chưa hoàn hảo) là cần thiết và mang lại nhiều lợi ích.

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 1900.6162

Gửi thư yêu cầu dịch vụ qua Email: [email protected]

Rất mong nhận được sự hợp tác của Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp