1. Khái niệm hành hạ
Hành hạ là hành vi đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình làm cho người đó đau đớn về thể xác hoặc khổ sở về tinh thần.
Hành vi hành hạ được thực hiện bằng các hình thức dùng sức mạnh thể chất như đánh đập, bắt trói, giam cầm...; dùng lời nói như chửi mắng, xỉ vả.. hoặc bằng cách không hành động của những người có nghĩa vụ như không cho ăn, không cho uống, không chăm sóc... :
Giữa người có hành vi hành hạ và người bị hành hạ bao giờ cũng có mối quan hệ lệ thuộc về gia đình, về xã hội (công tác, học tập, làm việc), về tín ngưỡng...
2. Quy định về tội hành hạ người khác
Tội hành hạ người khác quy định tại Điều 140 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:
“1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 11% trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên.”
3. Cấu thành tội phạm tội hành hạ người khác
Các yếu tố cấu thành tội hành hạ người khác:
Khách thể
Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến sức khoẻ của người khác (gồm sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần).
Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
+ Về hành vi: Có hành vi đối xử tàn ác đối với người lệ thuộc mình (lệ thuộc vào người có hành vi phạm tội), cụ thể là:
Đối xử tàn ác, được hiểu là hành vi gây ra sự đau đớn về thể xác (và tinh thần) đối với nạn nhân dưới các hình thức như đánh đập, bỏ đói, có hoặc không kèm theo việc chửi mắng thậm tệ.
Tuy nhiên việc đối xử tàn ác phải chưa đạt đến mức độ nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ. Việc đối xử tàn ác thông thường phải lặp đi lặp lại và kéo dài trong một thời gian nhất định.
Đây là tội có yếu tố định tính chứ không có yếu tố định lượng. Mức độ đốì xử tàn ác để được coi là phạm tội phụ thuộc vào sự đánh giá mang tính chủ quan của người áp dụng pháp luật trên cơ sở hậu quả những hành vi tàn ác của người phạm tội lặp đi lặp lại dài ngày, vào việc xâm phạm đến tập quán, phong tục, và sự lên án của dư luận thông qua các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng.
+ Dấu hiệu khác: Người bị hại phải là người có quan hệ lệ thuộc đối với người phạm tội về quan hệ xã hội, công tác hoặc về tôn giáo.
Người bị hại phải không có mối quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ gia đình như vợ, chồng, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, người có công nuôi dưỡng đối với người phạm tội. Trường hợp người bị hại có mối quan hệ hôn nhân hoặc gia đình đối vối người phạm tội thì cấu thành tội ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (quy định tại Điều 151 Bộ luật Hình sự).
Chủ thể
Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và phải có mối quan hệ lệ thuộc với nạn nhân (xem giải thích ở mặt khách quan của tội này).
Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
Về hình phạt
Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành hai khung, cụ thể như sau:
+ Khung một (khoản 1)
Có mức hình phạt là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.
+ Khung hai (khoản 2)
Quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 03 năm áp dụng đối với một trong các trường hợp sau: Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
Người già yếu là người từ 70 tuổi trở lên (điểm i Điều 52 BLHS năm 2015), sinh hoạt sức khỏe yếu, đi lại khó khăn, chậm chạp…Người ốm đau là người đang bị bệnh tật, có thể điều trị ở bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân hoặc tại nhà riêng của họ. Người không có khả năng tự vệ là người bị tật nguyền, người tàn tật là người có một bộ phận, cơ quan nào đó trong cơ thể bị tật nặng, mất khả năng lao động nên hoạt động không bình thường. Đó là những đối tượng được pháp luật đặc biệt bảo vệ, người có hành vi xâm phạm đến họ thì bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn.
Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên: gây rối loạn tâm thần biểu hiện trạng thái thần kinh không bình thường, lo âu, sợ sệt, trầm cảm, mất ăn, mất ngủ, hoảng loạn. Đó là biểu hiện của Stress. Cần phân biệt làm rõ rối loạn tâm thần do bệnh lý từ trước hay do sự tác động, sang chấn tâm lý và hậu quả của hành vi phạm tội. Đánh giá mức độ gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y theo quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần.
4. Phân biệt tội hành hạ người khác và tội hành hạ ông bà cha mẹ
Căn cứ vào các quy định trên, tội hành hạ người khác và tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình có những điểm khác nhau cơ bản như sau:
| Tiêu chí | Tội hành hạ người khác (Điều 140 BLHS 2017) | Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS 2017) |
| Mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân | Người phạm tội và nạn nhân có mối quan hệ lệ thuộc về kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo,… như mối quan hệ giữa giám đốc với nhân viên | Người phạm tội và nạn nhân có mối quan hệ lệ thuộc trong hôn nhân gia đình như cha mẹ với con đẻ, ông bà với cháu ngoại |
| Khách thể | Tội phạm hành hạ người khác xâm phạm đến quyền được bảo hộ sức khỏe, tự do, danh dự của người bị lệ thuộc | Tội phạm ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình xâm phạm đến quyền quyền và nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau giữa những người thân trong gia đình bao gồm vợ chồng, cha mẹ, con, ông bà, cháu và người có công nuôi dưỡng mình |
| Loại cấu thành tội phạm | Tội phạm này có cấu thành tội phạm hình thức: chỉ cần có hành vi theo quy định pháp luật thì tội phạm được coi là đã hoàn thành. Hậu quả xảy ra không dùng làm căn cứ xác định có phạm tội hay không. | Tội phạm này có cấu thành tội phạm vật chất: Có hành vi, có hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hành vi là:
Hậu quả là:
|
5. Phân biệt tội hành hạ người khác và tội bức tử
Tội bức tử và tội hành hạ người khác đều là các tội danh mà các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền được bảo hộ sức khỏe, tự do danh dự của người khác. Đều có hành vi khách quan là hành vi đối xử tàn ác, ức hiếp như thường xuyên đánh đập người lệ thuộc vào mình. Và là hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Cả hai tội danh này đều được thực hiện bằng hình thức lỗi cố ý. Vì có nhiều điểm giống nhau nên khi hành vi được xác lập đôi khi sẽ khiến ta nhầm lẫn giữa hai tội danh này. Vậy làm sao để phân định hai loại tội phạm này.
Điều 130 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội bức tử
1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.
Điều 140 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội hành hạngười khác
“1. Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 11% trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên.”
Điểm phân biệt 2 tội danh này nằm ở quan hệ nhân quả và hậu quả của hành vi
- Tội bức tử:
+ Nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân tự sát là do hành vi của người phạm tội đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp ngược đãi hoặc làm nhục người đó.
+ Hành vi khách quan của tội bức tử phải dẫn đến hậu quả là người phạm tội tự sát, tức là, ,nạn nhân, có thể bằng nhiều phương pháp khác nhau, đã tự mình thực hiện việc tước đoạt tính mạng của chính mình như: thắt cổ, uống thuốc độc, nhảy xuống sông, đâm vào bụng, bắn vào đầu v.v...
+ Hành vi tự sát phải do chính nạn nhân thực hiện, trường hợp nạn nhân muốn chết nhưng lại không tự mình thực hiện hành vi mà nhờ người khác giúp thì không cấu thành tội phạm này
+ Hành vi tự sát không nhất thiết phải có hậu quả chết người
- Tội hành hạ người khác
+ Không dẫn đến hậu quả nạn nhân tự sát
Ngoài ra, Nạn nhân của tội bức tử là những người lệ thuộc người phạm tội. Nạn nhân của tội làm nhục người khác là người lệ thuộc ngoài ông bà cha mẹ con cháu, hoặc người có công nuôi dưỡng người phạm tôi.
Kết luận: Khi một người có hành vi đối xử tàn ác, làm nhục người lệ thuộc mình, căn cứ vào hậu quả xảy ra để xác định tội danh. Nếu hậu quả dẫn đến việc người lệ thuộc tự sát thì cấu thành tội bức tử.
Lưu ý:
+ Trường hợp nạn nhân muốn chết nhưng lại không tự mình thực hiện hành vi mà nhờ người khác giúp thì không cấu thành tội phạm này mà cấu thành này
+ Trường hợp có hành vi đối xử tàn ác đối với người lệ thuộc mình là ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mà nạn nhân không tự sát thì cấu thành tội Điều 185.