1. Mẫu di chúc lập tại văn phòng công chứng

Cá nhân có quyền lập di chúc lập tại văn phòng công chứng - Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu di chúc này để Quý khách hàng tham khảo. Nội dung chi tiết dưới đây:

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

>> Tải toàn văn: Mẫu di chúc lập tại văn phòng công chứng

-------------------------------------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

DI CHÚC

Tại Phòng Công chứng số............tỉnh/ thành phố ………. (Trường hợp việc công chứng được thực hiện ngoài trụ sở, thì ghi địa điểm thực hiện công chứng và Phòng Công chứng),

Tôi là (ghi rõ họ và tên):......................................................

Sinh ngày:......./....../................

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số:.............cấp ngày...../...../........tại .......

Hộ khẩu thường trú: (Trường hợp không có hộ khẩu thường trú, thì ghi đăng ký tạm trú)

............................................................................................

Trường hợp vợ chồng lập Di chúc chung thì ghi như sau:

Tôi là (ghi rõ họ và tên):......................................................

Sinh ngày:...../....../.............

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: .……..cấp ngày ….. /...…/.……. tại ………

Hộ khẩu thường trú:(trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú)

…………………………………………………..…………………

cùng vợ là Bà: ...............................................

Sinh ngày: ............../…............../…………...

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: ……....cấp ngày .... /…./…….. tại ……

Hộ khẩu thường trú: (trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú)……………………

Trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt, tôi (chúng tôi) lập di chúc này như sau:

(Ghi rõ: Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Trong trường hợp có chỉ định người thực hiện nghĩa vụ, thì phải ghi rõ họ tên của người này và nội dung của nghĩa vụ).

………………………………………………………………………

……...................……………………………………………………

………………………………………………………………………

Trong trường hợp Di chúc có người làm chứng thì ghi thêm nội dung sau:

Để làm chứng cho việc lập Di chúc, tôi (chúng tôi) có mời người làm chứng là:

Ông (Bà): ...

Sinh ngày: .……/…../………...

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: …………...cấp ngày .... /.…/.…… tại ………

Hộ khẩu thường trú: (trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú).…………………………

Ông (Bà): ...

Sinh ngày: .……/…../………...

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: ……..cấp ngày .... /.…/.…… tại ………

Hộ khẩu thường trú: (trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú). ………………………………

Những người làm chứng nêu trên là do tôi (chúng tôi) tự lựa chọn và mời đến, họ không thuộc những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của tôi (chúng tôi), không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung Di chúc, họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Tôi (chúng tôi) đã đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên.

Hoặc có thể chọn một trong các trường hợp sau đây:

- Tôi (chúng tôi) đã đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã đọc nội dung di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe công chứng viên đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe công chứng viên đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe công chứng viên đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe người làm chứng đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên và người làm chứng.

- Tôi (chúng tôi) đã nghe người làm chứng đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên và người làm chứng.

- Tôi (chúng tôi) đã nghe người làm chứng đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên và người làm chứng.

Người làm chứng (nếu có) Người lập di chúc

1. (Ký và ghi rõ họ tên) (Ký, điểm chỉ và ghi rõ họ tên)

2. (Ký và ghi rõ họ tên)

LỜI CHỨNG CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN

Ngày.........tháng...........năm.............. (bằng chữ ...............................)

(Trường hợp công chứng ngoài giờ làm việc hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, thì ghi thêm giờ, phút và cũng ghi bằng chữ trong dấu ngoặc đơn)

Tại Phòng Công chứng số......... tỉnh/ thành phố .......................

(Trường hợp việc công chứng được thực hiện ngoài trụ sở, thì ghi địa điểm thực hiện công chứng và Phòng công chứng),

Tôi......................., công chứng viên Phòng Công chứng số......... tỉnh/ thành phố ................

Chứng nhận:

- Ông/bà .................................. đã tự nguyện lập di chúc này;

- Theo sự nhận biết của tôi, tại thời điểm công chứng, ông(bà) có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật;

- Nội dung di chúc phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội;

- Người lập di chúc đã đọc bản di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và đã ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

Hoặc chọn một trong các trường hợp sau:

- Người lập di chúc đã đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và đã ký, điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe công chứng viên đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe công chứng viên đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe công chứng viên đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe người làm chứng đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe người làm chứng đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe người làm chứng đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Di chúc này được lập thành .......... bản chính (mỗi bản chính gồm ....... tờ, ........ trang), cấp cho người lập di chúc ........... bản chính; lưu tại Phòng Công chứng một bản chính.

Số công chứng .........., quyển số ..........TP/CC-SCC/HĐGD.

Công chứng viên

(ký, đóng dấu và ghi rõ họ tên)

>> Xem thêm:  Thắc mắc về việc chia tài sản thừa kế theo pháp luật ? Cách từ chối nhận tài sản thừa kế ?

2. Cách giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc ?

Thưa luật sư, em có trường hợp phân chia tài sản như sau, mong công ty giải đáp giúp em: Ông A là 1 doanh nhân, có vợ và 2 cô con gái. Một cô 20 tuổi và một cô 15 tuổi. Năm 47 tuổi ông A mắc bệnh ung thư nên đã làm 1 bản di chúc để lại quyền sử dụng đất và ngôi nhà trị giá 3 tỉ đồng cho vợ và 2 con, toàn bộ các tài sản khác có giá trị khoảng 6 tỉ đồng để lại cho người em trai ruột của ông. Bản di chúc do ông A tự tay viết và đã được ủy ban phường nơi ông A cư trú chứng thực. Khi ông A mất, di chúc được công bố nhưng vợ ông A không chấp nhận nội dung bản di chúc đó.
Bà này đã kiện ra tòa án và yêu cầu phân chia thừa kế, tòa án phải phân xử trường hợp này như thế nào ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Mẫu di chúc lập tại văn phòng công chứng

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời :

Tòa án sẽ giải quyết trường hợp này dựa trên những quy định pháp luật về thừa kế mà cụ thể là thừa kế theo di chúc vì ông A có để lại di chúc và những chứng cứ mà các bên đưa ra để giải quyết vụ việc.

Một bản di chúc có hiệu lực, được coi là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi đáp ứng đủ các quy định tại Điều 630Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

"

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. "

Hình thức của di chúc hợp pháp được quy định tại Bộ Luật dân sự năm 2015. Trong đó có hình thức di chúc bằng văn bản có chứng thực được coi là hợp pháp. Như vậy, bản di chức của ông A là hoàn toàn hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Pháp luật tôn trọng ý chí của cá nhân khi để lại di chúc chính vì vậy tại Điều 62648 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định quyền của ngươi lập di chức:

"Quyền của người lập di chúc

Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

."

Như vậy, người lập di chúc về cơ bản có toàn quyền quyết định đối với việc ai là người thừa kế, được thừa kế bao nhiêu phần di sản trừ trường hợp có quy đinh khác.đ644 BLDS 2015

" Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

."

Theo đó nếu ông A vẫn có cha, mẹ thì họ vẫn được hưởng di sản thừa kế của ông A. như vậy nếu vợ ông ấy đưa đơn ra Tòa khởi kiện thì tòa án vẫn sẽ phân chia theo di chúc nếu ông A không còn cha mẹ, còn nếu ông A còn cha, mẹ thì tòa án sẽ phân chia di sản cho cả họ nữa theo tỷ lệ được quy định ở trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về quyền thừa kế đối với sổ tiết kiệm gửi ngân hàng ? Thủ tục kiện đòi tài sản thừa kế ?

3. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ?

Thưa Luật sư! Tôi không hiểu vấn đề dưới đây nhờ luật sư giải thích rõ hơn giúp:

Theo quy định tại Điều 644 BLDS:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

.

Tôi muốn lập di chúc để lại tài sản cho vợ, con tôi mà không ai được hưởng kể cả mẹ tôi thì phải làm sao vì như đề cập ở trên thì điều tôi mong muốn có vẻ không thực hiện được ?

Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động".

Điều 644 được hiểu như sau: “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” và “con đã thành niên mà không có khả năng lao động” vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó. Tuy nhiên, quyền hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc với những người không có quyền hưởng di sản .

Bạn hoàn toàn có quyền lập di chúc để lại tài sản cho vợ, con và mẹ bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế sau khi cha mẹ mất theo pháp luật như thế nào ? Cách xác định quyền thừa kế ?

4. Tranh chấp thừa kế: Di chúc viết tay vẫn hợp pháp

Đó là bản di chúc tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cả hai bà vợ đều thừa nhận do chồng viết và ký tên. Ông N. (tỉnh Thừa Thiên-Huế) có ba vợ. Ông với người vợ đầu chung sống từ năm 1954, không có con chung nhưng có hai con nuôi. Do cuộc hôn nhân đầu không hạnh phúc nên ông N. sống chung với “vợ” thứ hai nhưng không đăng ký kết hôn. Họ có với nhau một con trai, đặt tên là H. Năm 1985, ông N. ra tòa ly hôn với vợ đầu rồi rời Huế vào Vũng Tàu sinh sống.

Tại đây, ông lại chung sống như vợ chồng với bà L. từ tháng 8-1989 và ba năm sau đó thì hai người mới chính thức đăng ký kết hôn.

Năm 2004, ông N. qua đời. Trong khối di sản ông để lại có căn nhà tại phường Rạch Dừa, TP Vũng Tàu. Đây là nhà đất do UBND đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo cấp cho ông N. vào năm 1990 dưới dạng nhà tình nghĩa. Trước khi mất, ông đã lập di chúc cho anh H. được hưởng căn nhà này nhưng phải chia lại cho bà L. 200 triệu đồng.

.Tranh chấp thừa kế: Di chúc viết tay vẫn hợp pháp

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tranh chấp thừa kế

Di chúc lập vậy nhưng vào năm 2007, con nuôi người vợ đầu đã kiện bà L. ra TAND TP Vũng Tàu để đòi chia căn nhà tình nghĩa nêu trên. Cả nguyên đơn lẫn bị đơn đều cho rằng di chúc không hợp lệ và muốn được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Nguyên đơn cho rằng di chúc này chỉ mới là bản dự thảo, không hợp lệ vì không có ngày tháng và chữ ký. Bà L. thì bảo chồng mình viết di chúc do bị “vợ” hai (mẹ anh H.) ép buộc. Ông viết di chúc trong tình trạng không minh mẫn, bị hạn chế về thể chất. Ngoài ra, bà L. cũng yêu cầu tòa án giải quyết cho bà số tiền gần 280 triệu đồng, bao gồm chi phí nuôi con (đã mất năm bốn tuổi), chi phí nuôi chồng, sửa nhà, làm đám ma, xây mộ cho chồng…

Xét xử vụ án năm 2007, cả cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều tuyên án theo hướng công nhận tính hợp pháp của di chúc. Anh H. được hưởng căn nhà tình nghĩa nhưng phải đưa lại cho bà L. 200 triệu đồng, còn bà L. chỉ được lưu cư tại căn nhà trong thời hạn sáu tháng tính từ ngày nhận đủ 200 triệu đồng. Theo quan điểm của TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bản di chúc tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cả nguyên và bị đơn đều thừa nhận do ông N. viết, có ghi rõ ngày tháng và ký tên. Sau đó, ông N. còn gửi bản di chúc cho luật sư. Ba tháng sau, ông còn làm đơn xin ly hôn với bà L. Các chi tiết này cho thấy ông rất minh mẫn và sáng suốt khi lập di chúc. Bà L. bảo ông N. bị ép lập di chúc nhưng không có chứng cứ chứng minh nên di chúc này hợp pháp.

Cũng theo cấp phúc thẩm, vợ có nghĩa vụ chăm sóc chồng, mẹ có nghĩa vụ chăm sóc con nên bà L. không thể đòi khấu trừ chi phí đó vào di sản thừa kế. Cả hai cấp xét xử chỉ chấp nhận cho bà nhận số tiền hơn 19 triệu đồng gồm chi phí mai táng và sửa chữa nhà. Người con nuôi (nguyên đơn) không được hưởng gì hết.

Không phải hôn nhân thực tế

Bà L. cho rằng cách xét xử trên là sai vì bà và ông N. đã chung sống từ tháng 8-1989 và đây là hôn nhân thực tế, còn căn nhà tình nghĩa được cấp năm 1990. Như vậy, căn nhà là tài sản chung của vợ chồng nên ông N. không thể tự định đoạt nó mà không thông qua ý kiến của bà.

Theo Nghị quyết số 35 năm 2000 của Quốc hội, quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 3-1-1987 mà không đăng ký kết hôn thì được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế. Viện dẫn nghị quyết này, luật sư Nguyễn Thị Hồng Liên (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng hôn nhân của bà L. với ông N. không phải là hôn nhân thực tế vì họ chung sống từ tháng 8-1989. Thời kỳ hôn nhân của họ được tính từ thời điểm đăng ký kết hôn, tức từ năm 1992. Trong khi đó, ông N. được cấp căn nhà tình nghĩa vào năm 1990, tức trước thời kỳ hôn nhân giữa ông với bà L. Như vậy, nếu ông N. không nhập căn nhà vào khối tài sản chung thì đây là tài sản riêng của ông N. Do đó, ông N. có toàn quyền định đoạt căn nhà này theo ý mình.

Đương nhiên, nếu bà L. chứng minh được công sức đóng góp đối với căn nhà (như bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà), bà có quyền được hưởng một khoản tiền tương ứng với công sức đóng góp đó.

>> Xem thêm:  Tư vấn quy định pháp luật về tước quyền thừa kế ? Cách phân chia quyền thừa kế đúng luật ?

5 Tư vấn về quyền thừa kế theo di chúc ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê,thưa luật sư . tôi nhờ luật sư tư vấn dùm sự việc như sau : ông nội tôi có viết di chúc để lại cho anh tôi thừa hưởng tất cả tài sản để lại và có ghi rõ là chỉ giữ gìn để cúng ông bà chứ không được bán .

Di chúc được xã đóng dấu ký xác nhận. Nhưng lúc ông tôi còn sống khoản hơn một năm thì anh tôi không còn sống chung với ông và cùng vợ đi sống riêng . trong khoản thời gian này thì ông tôi có làm di chúc cho người cô út nhưng di chúc này không được xã đóng dấu ký xác nhận. Từ đó ,cho đến nay ông tôi đã chết hơn 32 năm rồi. Và từ lúc ông chết đến nay thì nhà cô chăm sóc và cúng ông bà (nhà thờ).nay xã yêu cầu làm giấy đất thì anh tôi đem di chúc ra để làm thì cô không đồng ý vì vợ chồng anh tôi không tròn trách nhiệm .và trước khi chết ông tôi có giao lại cho cô tôi bằng miệng, hiện giờ còn tranh chấp và cô tôi thì nói chia ra mỗi người một phần đất ruộng còn nhà và đất ở thì không chia để làm nhà thờ nhưng anh tôi thì không đồng ý.

Tôi xin hỏi là di chúc của cả hai còn hiệu lực không và nhờ luật sư tư vấn dùm thêm cách phân chia ,ai đúng và làm như thế nào để hợp tình hợp lý ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:Đ.M

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 630 và 629 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Điều 629. Di chúc miệng

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Căn cứ vào hai điểu trên cho thấy di chúc ông bạn để lại chô anh trai bạn đã được công chứng chứng thực và ông bạn lập trong thời gian minh mẫn không có điều gì trái pháp luật nên được coi là di chúc hợp pháp ,với di chúc của cô bạn được lập sau di chúc của anh bạn nhưng lại được thể hiện bằng miệng nên nếu đó là những lới nới thể hiện ý chí cuối cùng của ông bạn trước mặt ít nhất 2 người làm chứng thì ngay sau đó đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực thì mới được coi là di chúc hợp pháp và phát sinh hiệu lực .Trong trường hợp này di chúc của anh bạn là di chúc hợp pháp.

Theo điểu 623 bộ luật dân sư quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Theo thông tin bạn cung cấp thì ông bạn đến nay đã mất được 32 năm đã quá thời hiệu khỏi kiện mới phát sinh tranh chấp thừa kế nên dù di chúc của anh bạn có hợp pháp thì bây giờ cũng không phát sinh hiệu lực nữa .

Như vậy với trường hợp của bạn khi có tranh chấp thì di chúc đã hết hiệu lực nhưng nếu hai bên đồng ý thực hiện theo di chúc ông bạn để lại thì sẽ chia theo di chúc của anh bạn nhưng trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được và không đồng ý với sự thỏa thuận đó, khi khởi kiện đưa ra cơ quan có thẩm quyền thì tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế và được chia đều cho mọi người theo hàng thừa kế quy định tại bộ luật dân sự .

Căn cứ vào điều trên, khi chia di sản theo pháp luật thì cô bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất và anh bạn thuộc hàng thừa kế thứ 2 nên khi chia di sản sẽ đươc chia đều các phần bằng nhau cho hàng thừa kế thứ 1, nếu không còn ai ở hàng thứ nhất thì anh bạn mới được hưởng theo hàng thừa kế thứ 2.Có nghĩa là khi chia theo pháp luật thì cô bạn sẽ được ưu tiên thừa kế hơn anh bạn nên nếu muấn cũng được hưởng nhiều phần đất thì anh bạn nên đồng ý với thỏa thuận do cô bạn đã đề xuất trước đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh KHuê

1. Mẫu di chúc lập tại văn phòng công chứng

Cá nhân có quyền lập di chúc lập tại văn phòng công chứng - Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu di chúc này để Quý khách hàng tham khảo. Nội dung chi tiết dưới đây:

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

>> Tải toàn văn: Mẫu di chúc lập tại văn phòng công chứng

-------------------------------------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

DI CHÚC

Tại Phòng Công chứng số............tỉnh/ thành phố ………. (Trường hợp việc công chứng được thực hiện ngoài trụ sở, thì ghi địa điểm thực hiện công chứng và Phòng Công chứng),

Tôi là (ghi rõ họ và tên):......................................................

Sinh ngày:......./....../................

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số:.............cấp ngày...../...../........tại .......

Hộ khẩu thường trú: (Trường hợp không có hộ khẩu thường trú, thì ghi đăng ký tạm trú)

............................................................................................

Trường hợp vợ chồng lập Di chúc chung thì ghi như sau:

Tôi là (ghi rõ họ và tên):......................................................

Sinh ngày:...../....../.............

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: .……..cấp ngày ….. /...…/.……. tại ………

Hộ khẩu thường trú:(trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú)

…………………………………………………..…………………

cùng vợ là Bà: ...............................................

Sinh ngày: ............../…............../…………...

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: ……....cấp ngày .... /…./…….. tại ……

Hộ khẩu thường trú: (trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú)……………………

Trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt, tôi (chúng tôi) lập di chúc này như sau:

(Ghi rõ: Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; Trong trường hợp có chỉ định người thực hiện nghĩa vụ, thì phải ghi rõ họ tên của người này và nội dung của nghĩa vụ).

………………………………………………………………………

……...................……………………………………………………

………………………………………………………………………

Trong trường hợp Di chúc có người làm chứng thì ghi thêm nội dung sau:

Để làm chứng cho việc lập Di chúc, tôi (chúng tôi) có mời người làm chứng là:

Ông (Bà): ...

Sinh ngày: .……/…../………...

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: …………...cấp ngày .... /.…/.…… tại ………

Hộ khẩu thường trú: (trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú).…………………………

Ông (Bà): ...

Sinh ngày: .……/…../………...

Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân số: ……..cấp ngày .... /.…/.…… tại ………

Hộ khẩu thường trú: (trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì ghi nơi đăng ký tạm trú). ………………………………

Những người làm chứng nêu trên là do tôi (chúng tôi) tự lựa chọn và mời đến, họ không thuộc những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của tôi (chúng tôi), không phải là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung Di chúc, họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Tôi (chúng tôi) đã đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên.

Hoặc có thể chọn một trong các trường hợp sau đây:

- Tôi (chúng tôi) đã đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã đọc nội dung di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe công chứng viên đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe công chứng viên đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe công chứng viên đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên (và người làm chứng nếu có người làm chứng).

- Tôi (chúng tôi) đã nghe người làm chứng đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên và người làm chứng.

- Tôi (chúng tôi) đã nghe người làm chứng đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên và người làm chứng.

- Tôi (chúng tôi) đã nghe người làm chứng đọc di chúc, đồng ý toàn bộ nội dung di chúc và điểm chỉ vào di chúc này trước sự có mặt của công chứng viên và người làm chứng.

Người làm chứng (nếu có) Người lập di chúc

1. (Ký và ghi rõ họ tên) (Ký, điểm chỉ và ghi rõ họ tên)

2. (Ký và ghi rõ họ tên)

LỜI CHỨNG CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN

Ngày.........tháng...........năm.............. (bằng chữ ...............................)

(Trường hợp công chứng ngoài giờ làm việc hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, thì ghi thêm giờ, phút và cũng ghi bằng chữ trong dấu ngoặc đơn)

Tại Phòng Công chứng số......... tỉnh/ thành phố .......................

(Trường hợp việc công chứng được thực hiện ngoài trụ sở, thì ghi địa điểm thực hiện công chứng và Phòng công chứng),

Tôi......................., công chứng viên Phòng Công chứng số......... tỉnh/ thành phố ................

Chứng nhận:

- Ông/bà .................................. đã tự nguyện lập di chúc này;

- Theo sự nhận biết của tôi, tại thời điểm công chứng, ông(bà) có đầy đủ năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật;

- Nội dung di chúc phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội;

- Người lập di chúc đã đọc bản di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và đã ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

Hoặc chọn một trong các trường hợp sau:

- Người lập di chúc đã đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và đã ký, điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe công chứng viên đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe công chứng viên đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe công chứng viên đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe người làm chứng đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe người làm chứng đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và ký, điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Người lập di chúc đã nghe người làm chứng đọc di chúc này, đã đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong di chúc và điểm chỉ vào di chúc trước sự có mặt của tôi;

- Di chúc này được lập thành .......... bản chính (mỗi bản chính gồm ....... tờ, ........ trang), cấp cho người lập di chúc ........... bản chính; lưu tại Phòng Công chứng một bản chính.

Số công chứng .........., quyển số ..........TP/CC-SCC/HĐGD.

Công chứng viên

(ký, đóng dấu và ghi rõ họ tên)

>> Xem thêm:  Xác định quyền thừa kế và mức giá đền bù đối với đất bị thu hồi ? Quyền thừa kế sang tên nhà đất ?

2. Cách giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc ?

Thưa luật sư, em có trường hợp phân chia tài sản như sau, mong công ty giải đáp giúp em: Ông A là 1 doanh nhân, có vợ và 2 cô con gái. Một cô 20 tuổi và một cô 15 tuổi. Năm 47 tuổi ông A mắc bệnh ung thư nên đã làm 1 bản di chúc để lại quyền sử dụng đất và ngôi nhà trị giá 3 tỉ đồng cho vợ và 2 con, toàn bộ các tài sản khác có giá trị khoảng 6 tỉ đồng để lại cho người em trai ruột của ông. Bản di chúc do ông A tự tay viết và đã được ủy ban phường nơi ông A cư trú chứng thực. Khi ông A mất, di chúc được công bố nhưng vợ ông A không chấp nhận nội dung bản di chúc đó.
Bà này đã kiện ra tòa án và yêu cầu phân chia thừa kế, tòa án phải phân xử trường hợp này như thế nào ?
Tôi xin chân thành cảm ơn !

Mẫu di chúc lập tại văn phòng công chứng

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời :

Tòa án sẽ giải quyết trường hợp này dựa trên những quy định pháp luật về thừa kế mà cụ thể là thừa kế theo di chúc vì ông A có để lại di chúc và những chứng cứ mà các bên đưa ra để giải quyết vụ việc.

Một bản di chúc có hiệu lực, được coi là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi đáp ứng đủ các quy định tại Điều 630Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

"

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. "

Hình thức của di chúc hợp pháp được quy định tại Bộ Luật dân sự năm 2015. Trong đó có hình thức di chúc bằng văn bản có chứng thực được coi là hợp pháp. Như vậy, bản di chức của ông A là hoàn toàn hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Pháp luật tôn trọng ý chí của cá nhân khi để lại di chúc chính vì vậy tại Điều 62648 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định quyền của ngươi lập di chức:

"Quyền của người lập di chúc

Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

."

Như vậy, người lập di chúc về cơ bản có toàn quyền quyết định đối với việc ai là người thừa kế, được thừa kế bao nhiêu phần di sản trừ trường hợp có quy đinh khác.đ644 BLDS 2015

" Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

."

Theo đó nếu ông A vẫn có cha, mẹ thì họ vẫn được hưởng di sản thừa kế của ông A. như vậy nếu vợ ông ấy đưa đơn ra Tòa khởi kiện thì tòa án vẫn sẽ phân chia theo di chúc nếu ông A không còn cha mẹ, còn nếu ông A còn cha, mẹ thì tòa án sẽ phân chia di sản cho cả họ nữa theo tỷ lệ được quy định ở trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam ?

3. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ?

Thưa Luật sư! Tôi không hiểu vấn đề dưới đây nhờ luật sư giải thích rõ hơn giúp:

Theo quy định tại Điều 644 BLDS:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

.

Tôi muốn lập di chúc để lại tài sản cho vợ, con tôi mà không ai được hưởng kể cả mẹ tôi thì phải làm sao vì như đề cập ở trên thì điều tôi mong muốn có vẻ không thực hiện được ?

Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động".

Điều 644 được hiểu như sau: “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” và “con đã thành niên mà không có khả năng lao động” vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó. Tuy nhiên, quyền hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc với những người không có quyền hưởng di sản .

Bạn hoàn toàn có quyền lập di chúc để lại tài sản cho vợ, con và mẹ bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Quy định về về truất quyền thừa kế ? Giả mạo giấy tờ có bị tước quyền thừa kế không ?

4. Tranh chấp thừa kế: Di chúc viết tay vẫn hợp pháp

Đó là bản di chúc tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cả hai bà vợ đều thừa nhận do chồng viết và ký tên. Ông N. (tỉnh Thừa Thiên-Huế) có ba vợ. Ông với người vợ đầu chung sống từ năm 1954, không có con chung nhưng có hai con nuôi. Do cuộc hôn nhân đầu không hạnh phúc nên ông N. sống chung với “vợ” thứ hai nhưng không đăng ký kết hôn. Họ có với nhau một con trai, đặt tên là H. Năm 1985, ông N. ra tòa ly hôn với vợ đầu rồi rời Huế vào Vũng Tàu sinh sống.

Tại đây, ông lại chung sống như vợ chồng với bà L. từ tháng 8-1989 và ba năm sau đó thì hai người mới chính thức đăng ký kết hôn.

Năm 2004, ông N. qua đời. Trong khối di sản ông để lại có căn nhà tại phường Rạch Dừa, TP Vũng Tàu. Đây là nhà đất do UBND đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo cấp cho ông N. vào năm 1990 dưới dạng nhà tình nghĩa. Trước khi mất, ông đã lập di chúc cho anh H. được hưởng căn nhà này nhưng phải chia lại cho bà L. 200 triệu đồng.

.Tranh chấp thừa kế: Di chúc viết tay vẫn hợp pháp

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tranh chấp thừa kế

Di chúc lập vậy nhưng vào năm 2007, con nuôi người vợ đầu đã kiện bà L. ra TAND TP Vũng Tàu để đòi chia căn nhà tình nghĩa nêu trên. Cả nguyên đơn lẫn bị đơn đều cho rằng di chúc không hợp lệ và muốn được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Nguyên đơn cho rằng di chúc này chỉ mới là bản dự thảo, không hợp lệ vì không có ngày tháng và chữ ký. Bà L. thì bảo chồng mình viết di chúc do bị “vợ” hai (mẹ anh H.) ép buộc. Ông viết di chúc trong tình trạng không minh mẫn, bị hạn chế về thể chất. Ngoài ra, bà L. cũng yêu cầu tòa án giải quyết cho bà số tiền gần 280 triệu đồng, bao gồm chi phí nuôi con (đã mất năm bốn tuổi), chi phí nuôi chồng, sửa nhà, làm đám ma, xây mộ cho chồng…

Xét xử vụ án năm 2007, cả cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều tuyên án theo hướng công nhận tính hợp pháp của di chúc. Anh H. được hưởng căn nhà tình nghĩa nhưng phải đưa lại cho bà L. 200 triệu đồng, còn bà L. chỉ được lưu cư tại căn nhà trong thời hạn sáu tháng tính từ ngày nhận đủ 200 triệu đồng. Theo quan điểm của TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bản di chúc tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cả nguyên và bị đơn đều thừa nhận do ông N. viết, có ghi rõ ngày tháng và ký tên. Sau đó, ông N. còn gửi bản di chúc cho luật sư. Ba tháng sau, ông còn làm đơn xin ly hôn với bà L. Các chi tiết này cho thấy ông rất minh mẫn và sáng suốt khi lập di chúc. Bà L. bảo ông N. bị ép lập di chúc nhưng không có chứng cứ chứng minh nên di chúc này hợp pháp.

Cũng theo cấp phúc thẩm, vợ có nghĩa vụ chăm sóc chồng, mẹ có nghĩa vụ chăm sóc con nên bà L. không thể đòi khấu trừ chi phí đó vào di sản thừa kế. Cả hai cấp xét xử chỉ chấp nhận cho bà nhận số tiền hơn 19 triệu đồng gồm chi phí mai táng và sửa chữa nhà. Người con nuôi (nguyên đơn) không được hưởng gì hết.

Không phải hôn nhân thực tế

Bà L. cho rằng cách xét xử trên là sai vì bà và ông N. đã chung sống từ tháng 8-1989 và đây là hôn nhân thực tế, còn căn nhà tình nghĩa được cấp năm 1990. Như vậy, căn nhà là tài sản chung của vợ chồng nên ông N. không thể tự định đoạt nó mà không thông qua ý kiến của bà.

Theo Nghị quyết số 35 năm 2000 của Quốc hội, quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 3-1-1987 mà không đăng ký kết hôn thì được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế. Viện dẫn nghị quyết này, luật sư Nguyễn Thị Hồng Liên (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng hôn nhân của bà L. với ông N. không phải là hôn nhân thực tế vì họ chung sống từ tháng 8-1989. Thời kỳ hôn nhân của họ được tính từ thời điểm đăng ký kết hôn, tức từ năm 1992. Trong khi đó, ông N. được cấp căn nhà tình nghĩa vào năm 1990, tức trước thời kỳ hôn nhân giữa ông với bà L. Như vậy, nếu ông N. không nhập căn nhà vào khối tài sản chung thì đây là tài sản riêng của ông N. Do đó, ông N. có toàn quyền định đoạt căn nhà này theo ý mình.

Đương nhiên, nếu bà L. chứng minh được công sức đóng góp đối với căn nhà (như bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà), bà có quyền được hưởng một khoản tiền tương ứng với công sức đóng góp đó.

>> Xem thêm:  Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế ? Quyền thừa kế tài sản của con riêng ?

5 Tư vấn về quyền thừa kế theo di chúc ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê,thưa luật sư . tôi nhờ luật sư tư vấn dùm sự việc như sau : ông nội tôi có viết di chúc để lại cho anh tôi thừa hưởng tất cả tài sản để lại và có ghi rõ là chỉ giữ gìn để cúng ông bà chứ không được bán .

Di chúc được xã đóng dấu ký xác nhận. Nhưng lúc ông tôi còn sống khoản hơn một năm thì anh tôi không còn sống chung với ông và cùng vợ đi sống riêng . trong khoản thời gian này thì ông tôi có làm di chúc cho người cô út nhưng di chúc này không được xã đóng dấu ký xác nhận. Từ đó ,cho đến nay ông tôi đã chết hơn 32 năm rồi. Và từ lúc ông chết đến nay thì nhà cô chăm sóc và cúng ông bà (nhà thờ).nay xã yêu cầu làm giấy đất thì anh tôi đem di chúc ra để làm thì cô không đồng ý vì vợ chồng anh tôi không tròn trách nhiệm .và trước khi chết ông tôi có giao lại cho cô tôi bằng miệng, hiện giờ còn tranh chấp và cô tôi thì nói chia ra mỗi người một phần đất ruộng còn nhà và đất ở thì không chia để làm nhà thờ nhưng anh tôi thì không đồng ý.

Tôi xin hỏi là di chúc của cả hai còn hiệu lực không và nhờ luật sư tư vấn dùm thêm cách phân chia ,ai đúng và làm như thế nào để hợp tình hợp lý ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi:Đ.M

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại điều 630 và 629 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di chúc như sau:

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Điều 629. Di chúc miệng

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Căn cứ vào hai điểu trên cho thấy di chúc ông bạn để lại chô anh trai bạn đã được công chứng chứng thực và ông bạn lập trong thời gian minh mẫn không có điều gì trái pháp luật nên được coi là di chúc hợp pháp ,với di chúc của cô bạn được lập sau di chúc của anh bạn nhưng lại được thể hiện bằng miệng nên nếu đó là những lới nới thể hiện ý chí cuối cùng của ông bạn trước mặt ít nhất 2 người làm chứng thì ngay sau đó đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực thì mới được coi là di chúc hợp pháp và phát sinh hiệu lực .Trong trường hợp này di chúc của anh bạn là di chúc hợp pháp.

Theo điểu 623 bộ luật dân sư quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Theo thông tin bạn cung cấp thì ông bạn đến nay đã mất được 32 năm đã quá thời hiệu khỏi kiện mới phát sinh tranh chấp thừa kế nên dù di chúc của anh bạn có hợp pháp thì bây giờ cũng không phát sinh hiệu lực nữa .

Như vậy với trường hợp của bạn khi có tranh chấp thì di chúc đã hết hiệu lực nhưng nếu hai bên đồng ý thực hiện theo di chúc ông bạn để lại thì sẽ chia theo di chúc của anh bạn nhưng trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được và không đồng ý với sự thỏa thuận đó, khi khởi kiện đưa ra cơ quan có thẩm quyền thì tài sản đó sẽ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế và được chia đều cho mọi người theo hàng thừa kế quy định tại bộ luật dân sự .

Căn cứ vào điều trên, khi chia di sản theo pháp luật thì cô bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất và anh bạn thuộc hàng thừa kế thứ 2 nên khi chia di sản sẽ đươc chia đều các phần bằng nhau cho hàng thừa kế thứ 1, nếu không còn ai ở hàng thứ nhất thì anh bạn mới được hưởng theo hàng thừa kế thứ 2.Có nghĩa là khi chia theo pháp luật thì cô bạn sẽ được ưu tiên thừa kế hơn anh bạn nên nếu muấn cũng được hưởng nhiều phần đất thì anh bạn nên đồng ý với thỏa thuận do cô bạn đã đề xuất trước đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về quyền thừa kế và giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế như thế nào ?

>> Xem thêm:  Hỏi về thủ tục truất quyền thừa kế ? Ngược đãi cha mẹ có được chia hay bị tước tài sản thừa kế ?

>> Xem thêm:  Tài sản thừa kế khi bố mẹ vợ mất thì có phải chia cho con rể không ? Cách đòi lại tài sản thừa kế ?